Capital Punishment

by finandlife26/04/2014 10:49

Why a Global Tax on Wealth Won't End Inequality

By Tyler Cowen

Capital in the Twenty-first Century. BY THOMAS PIKETTY. TRANSLATED BY ARTHUR GOLDHAMMER.

Every now and then, the field of economics produces an important book; this is one of them. Thomas Piketty’s tome will put capitalist wealth back at the center of public debate, resurrect interest in the subject of wealth distribution, and revolutionize how people view the history of income inequality. On top of that, although the book’s prose (translated from the original French) might not qualify as scintillating, any educated person will be able to understand it -- which sets the book apart from the vast majority of works by high-level economic theorists.

Giới thiệu một tập sách mới của Thomas Piketty về sự giàu có của tư bản và phân phối thu nhập. Đây là một cuộc cách mạng về cách nhìn nhận về bất bình đẳng trong thu nhập.

Piketty is best known for his collaborations during the past decade with his fellow French economist Emmanuel Saez, in which they used historical census data and archival tax records to demonstrate that present levels of income inequality in the United States resemble those of the era before World War II. Their revelations concerning the wealth concentrated among the richest one percent of Americans -- and, perhaps even more striking, among the richest 0.1 percent -- have provided statistical and intellectual ammunition to the left in recent years, especially during the debates sparked by the 2011 Occupy Wall Street protests and the 2012 U.S. presidential election.

Tác phẩm dựa vào dữ liệu nhân khẩu học và tiền thuế lịch sử để chứng minh rằng mức độ bất bình đẳng thu nhập hiện tại ở Mỹ gần giống với thời trước thế chiến thứ 2. Tiết lộ của Tác giả tập trung vào 1% người giàu ở Mỹ.

In this book, Piketty keeps his focus on inequality but attempts something grander than a mere diagnosis of capitalism’s ill effects. The book presents a general theory of capitalism intended to answer a basic but profoundly important question. As Piketty puts it:

"Do the dynamics of private capital accumulation inevitably lead to the concentration of wealth in ever fewer hands, as Karl Marx believed in the nineteenth century? Or do the balancing forces of growth, competition, and technological progress lead in later stages of development to reduced inequality and greater harmony among the classes, as Simon Kuznets thought in the twentieth century?"

Có phải động lực tích lũy tư bản tư nhân chắc chắn dẫn đến sự tập trung của sự giàu có cho một số ít người, như Karl Marx tin tưởng ở thế kỷ 19? Hay có phải những động lực cân bằng của tăng trưởng, cạnh tranh và tiến bộ công nghệ dẫn đến sự phát triển về sau làm giảm sự chênh lệch giàu nghèo và hài hòa hơn giữa các tầng lớp, như Simon Kuznets đã nghĩ trong thế kỷ 20?”

Although he stops short of embracing Marx’s baleful vision, Piketty ultimately lands on the pessimistic end of the spectrum. He believes that in capitalist systems, powerful forces can push at various times toward either equality or inequality and that, therefore, “one should be wary of any economic determinism.” But in the end, he concludes that, contrary to the arguments of Kuznets and other mainstream thinkers, “there is no natural, spontaneous process to prevent destabilizing, inegalitarian forces from prevailing permanently.” To forestall such an outcome, Piketty proposes, among other things, a far-fetched plan for the global taxation of wealth -- a call to radically redistribute the fruits of capitalism to ensure the system’s survival. This is an unsatisfying conclusion to a groundbreaking work of analysis that is frequently brilliant -- but flawed, as well.

Kết thúc tác phẩm, tác giả đã tạo ra một tranh luận đối với những tác giả trước đó, những suy nghĩ được chấp nhận hiện nay, “Không có quá trình tự nhiên, tự phát để ngăn những lực lượng bất ổn từ cách hiểu đã bám rễ”. Để ngăn chặn một kết quả như vậy, Pikketty cho rằng nên đánh thuế toàn cầu lên tài sản để tái phân phối thu nhập và cũng để đảm bảo sự sống sót của hệ thống.

THE RICH ARE DIFFERENT

Piketty derives much of his analysis from a close examination of an important but generally overlooked driver of economic inequality: in contemporary market economies, the rate of return on investment frequently outstrips the overall growth rate, an imbalance that Piketty renders as r > g. Thanks to the effect of compounding, if that discrepancy persists over time, the wealth held by capitalists increases far more rapidly than other kinds of earnings, eventually outstripping them by a wide margin. To measure this effect, Piketty focuses on the annual capital-to-income ratio, which expresses the size of a country’s total stock of wealth relative to the income generated by its economy in a single year. Capital wealth is generally much larger than yearly national income -- in the case of today’s developed economies, about five to six times as large.

Tác giả cho rằng, trong nền kinh tế hiện nay, tỷ suất sinh lợi từ hoạt động đầu tư thường lớn hơn so với tốc độ tăng trưởng.

Nhớ lại công thức tính giá hiện tại của một tài sản trên dòng cổ tức ổn định, P=D/(r-g) à chỉ có ý nghĩa khi r>g.

Như vậy, sự làm việc tự nhiên của lãi kép cũng đã giúp những nhà tư bản tăng trưởng nhanh chóng hơn bất kể nguồn thu nhập nào khác, thậm chí, khoảng cách đó ngày càng rộng ra.

Piketty expertly narrates the story of how that gap has played a major role in economic history since the dawn of the modern era. The peace and relative stability enjoyed by western Europe during the second half of the nineteenth century allowed for enormous capital accumulation. Unprecedented concentrations of wealth arose, boosting inequality. But two world wars and the Great Depression destroyed capital and interrupted that trend. Those cataclysms led to a new, more egalitarian era, shaped by postwar rebuilding, a strong demand for labor, rapidly growing populations, and technological innovation. The three decades between 1950 and 1980 were truly unusual; the constellation of economic and demographic variables that produced prosperity during that period will probably not be re-created anytime soon.

Piketty kể lại câu chuyện một cách chuyên nghiệp rằng vì sao mà khoản cách của tỷ suất sinh lợi đầu tư lớn hơn tăng trưởng trên thu nhập giữ một vị trí quan trọng trong lịch sử kinh tế. Sự tăng trưởng nhanh chóng tài sản của giới tư bản đã nới rộng chênh lệch giàu nghèo, và điều đó đã bị phá hủy thông qua 2 cuộc chiến tranh thế giới và thời Đại khủng hoảng. Sau khủng hoảng mọi thứ được xây dựng lại với sự gia tăng của nhu cầu lao động, dân số và cải tiến công nghệ.

After 1980, ongoing capital accumulation, slower technological progress, and rising inequality heralded a regression to something akin to the conditions of the nineteenth century. But few notice the resemblance between now and then, especially in one crucial respect: the role of inherited wealth. So many nineteenth-century novelists were obsessed with estates and inheritance -- think of Jane Austen, George Eliot, or Charles Dickens -- precisely because receiving wealth from one’s parents was such a common way of prospering during that era. In nineteenth-century France, the flow of inheritances represented about 20–25 percent of national income during a typical year. According to Piketty’s calculations, the Western world is headed toward a roughly comparable situation. The relatively thrifty and wealthy baby boomers will soon begin to die off in greater numbers, and inheritance as a source of income disproportionately benefits the families of the very wealthy.

Sự giàu có nhờ thừa kế chiếm đến 20-25% thu nhập quốc gia trong suốt những năm 1980s.

At the core of Piketty’s story are the tragic consequences of capitalism’s success: peace and a declining population bring notable gains, but they also create a society dominated by wealth and by income from capital. In essence, Piketty presents a novel and somewhat disconcerting way of thinking about how hard it is to avoid growing inequality.

Sự thành công của chủ nghĩa tư bản đã dẫn đến sự thống trị của sự giàu co và thu nhập từ vốn.

Yet there are flaws in this tale. Although r > g is an elegant and compelling explanation for the persistence and growth of inequality, Piketty is not completely clear on what he means by the rate of return on capital. As Piketty readily admits, there is no single rate of return that everyone enjoys. Sitting on short-term U.S. Treasury bills does not yield much: a bit over one percent historically in inflation-adjusted terms and, at the moment, negative real returns. Equity investments such as stocks, on the other hand, have a historical rate of return of about seven percent. In other words, it is risk taking -- a concept mostly missing from this book -- that pays off.

Nhưng có những sai sót trong câu chuyện này. Mặc dù, r>g là một giải thích rõ ràng và thuyết phục cho sự gia tăng bất bình đẳng, Piketty không thật rõ ràng trong ý nghĩa của tỷ suất sinh lợi vốn đầu tư. Không có một tỷ suất duy nhất thỏa mãn cho mọi người, những người đầu tư vào trái phiếu có thể phải nhận lợi suất thật âm, những người đầu tư vào cổ phiếu mặc dù nhận được tỷ suất sinh lợi lớn hơn nhưng họ phải chấp nhận rủi ro.  

That fact complicates Piketty’s argument. Piketty estimates that the general annual rate of return on capital has averaged between four and five percent (pretax) and is unlikely to deviate too far from this range. But in too many parts of his argument, he seems to assume that investors can reap such returns automatically, with the mere passage of time, rather than as the result of strategic risk taking. A more accurate picture of the rate of return would incorporate risk and take into account the fact that although the stock of capital typically grows each year, sudden reversals and retrenchments are inevitable. Piketty repeatedly serves up the appropriate qualifications and caveats about his model, but his analysis and policy recommendations nevertheless reflect a notion of capital as a growing, homogeneous blob which, at least under peaceful conditions, ends up overshadowing other economic variables.

Furthermore, even if one overlooks Piketty’s hazy definition of the rate of return, it is difficult to share his confidence that the rate, however one defines it, is likely to be higher than the growth rate of the economy. Normally, economists think of the rate of return on capital as diminishing as investors accumulate more capital, since the most profitable investment opportunities are taken first. But in Piketty’s model, lucrative overseas investments and the growing financial sophistication of the superwealthy keep capital returns permanently high. The more prosaic reality is that most capital stays in its home country and also has a hard time beating randomly selected stocks. For those reasons, the future of capital income looks far less glamorous than Piketty argues.

Một vấn đề nữa, tác giả cuốn sách định nghĩa tỷ suất sinh lời trên vốn không thay đổi khi những nhà đầu tư tích lũy thêm vốn. Nhưng thực tế cho thấy, cơ hội tìm kiếm tỷ suất sinh lời cao ngày càng khó hơn khi nguồn vốn tăng lên.

RICARDO REDUX

Piketty, in a way, has updated the work of the British economist David Ricardo, who, in the early nineteenth century, identified the power of what he termed “rent,” which he defined as the income earned from taking advantage of the difference in value between more and less productive lands. In Ricardo’s model, rent -- the one kind of income that did not suffer from diminishing returns -- swallowed up almost everything else, which is why Ricardo feared that landlords would come to dominate the economy.

Of course, since Ricardo’s time, the relative economic importance of land has plummeted, and his fear now seems misplaced. During the twentieth century, other economists, such as Friedrich Hayek and the other thinkers who belonged to the so-called Austrian School, understood that it is almost impossible to predict which factors of production will provide the most robust returns, since future economic outcomes will depend on the dynamic and essentially unforeseeable opportunities created by future entrepreneurs. In this sense, Piketty is like a modern-day Ricardo, betting too much on the significance of one asset in the long run: namely, the kind of sophisticated equity capital that the wealthy happen to hold today.

Piketty’s concern about inherited wealth also seems misplaced. Far from creating a stagnant class of rentiers, growing capital wealth has allowed for the fairly dynamic circulation of financial elites. Today, the Rockefeller, Carnegie, and Ford family fortunes are quite dispersed, and the benefactors of those estates hardly run the United States, or even rival Bill Gates or Warren Buffett in the financial rankings. Gates’ heirs will probably inherit billions, but in all likelihood, their fortunes will also be surpassed by those of future innovators and tycoons, most of whom will not come from millionaire families.

To be sure, outside the realm of the ultra-elites, the United States suffers from unfairness in terms of who gets ahead in life, and a lack of upward mobility profoundly affects the prospects of lower-income Americans. Still, the success of certain immigrant groups suggests that cultural factors play a more significant role in mobility than does the capital-to-income ratio, since the children and grandchildren of immigrants from those groups tend to advance socioeconomically even if their forebears arrived without much in the way of accumulated fortunes.

It is also worth noting that many wealth accumulators never fully diversify their holdings, or even come close to doing so. Gates, for example, still owns a lot of Microsoft stock -- perhaps out of a desire for control, or because of a sentimental attachment to the company he co-founded, or maybe just due to excessive optimism. Whatever the reasons, over time such concentrations of financial interest hasten the circulation of elites by making it possible for the wealthy to suffer large losses very rapidly.

And in the end, even the most successful companies will someday fall, and the fortunes associated with them will dissipate. In the very long run, the most significant gains will be reaped by institutions that are forward-looking and rational enough to fully diversify. As Piketty discusses, that category includes the major private U.S. universities, and indeed the list of the top schools has not changed much over many decades. Harvard and other elite universities might, in fact, emerge as the true rentiers of the contemporary era: as of 2008, the top 800 U.S. colleges and universities controlled almost $400 billion in assets.

Một việc khác cũng khá quan trọng, đó là sự thừa kế không phải là vĩnh viễn, nó luôn có sự phân tán và thay đổi.

DOING WELL, THEN DOING GOOD

Piketty fears the stasis and sluggishness of the rentier, but what might appear to be static blocks of wealth have done a great deal to boost dynamic productivity. Piketty’s own book was published by the Belknap Press imprint of Harvard University Press, which received its initial funding in the form of a 1949 bequest from Waldron Phoenix Belknap, Jr., an architect and art historian who inherited a good deal of money from his father, a vice president of Bankers Trust. (The imprint’s funds were later supplemented by a grant from Belknap’s mother.) And consider Piketty’s native France, where the scores of artists who relied on bequests or family support to further their careers included painters such as Corot, Delacroix, Courbet, Manet, Degas, Cézanne, Monet, and Toulouse-Lautrec and writers such as Baudelaire, Flaubert, Verlaine, and Proust, among others.

Notice, too, how many of those names hail from the nineteenth century. Piketty is sympathetically attached to a relatively low capital-to-income ratio. But the nineteenth century, with its high capital-to-income ratios, was in fact one of the most dynamic periods of European history. Stocks of wealth stimulated invention by liberating creators from the immediate demands of the marketplace and allowing them to explore their fancies, enriching generations to come.

Piketty’s focus on the capital-to-income ratio is novel and worthwhile. But his book does not convincingly establish that the ratio is important or revealing enough to serve as the key to understanding significant social change. If wealth keeps on rising relative to income, but wages also go up, most people will be happy. Of course, in the past few decades, median wages have been stagnant in many developed countries, including the United States. But the real issue, then, is wages -- not wealth. A high capital-to-income ratio might be one factor depressing wages, but it hardly seems central -- and Piketty does not claim, much less show, that it is.

Sự tập trung của Piketty vào tỷ số vốn trên thu nhập. Nhưng tỷ số đó chưa đủ để thấu hiểu sự thay đổi cụ thể của xã hội. Tất nhiên, trong một vài thập kỷ qua, tiền lương trung bình đã bị trì trệ ở những quốc gia phát triển, gồm cả Mỹ. Nhưng thực sự, sau đó, tiền lương-không phải là sự giàu có. Tỷ số vốn trên thu nhập cao có thể đến từ tiền lương thấp, nhưng nó chưa phải là nhân tố trung tâm.

Two other factors have proved much more important: technological changes during the past few decades that have created a globalized labor market that rewards those with technical knowledge and computer skills and competition for low-skilled jobs from labor forces overseas, especially China. Piketty discusses both of those issues, but he puts them to the side rather than front and center.

Of course, income and wealth inequalities have risen in most of the world’s developed nations, and those processes will likely continue and perhaps intensify in the immediate future. But for the world as a whole, economic inequalities have been falling for several decades, mostly thanks to the economic rise of China and India. Growth in those countries has depended in part on policies of economic liberalization, which themselves were inspired and enabled, to a certain extent, by capital accumulation in the West. The relative global peace of the postwar period might have bred inequality in rich countries, but it has also led to reform and economic opportunity in poorer countries. It is no accident that communism was the product of war and civil conflict.

Tất nhiên, sự bất bình đẳng thu nhập và giàu có đã tăng lên ở hầu hết những quốc gia phát triển và quá trình ngày có thể còn tiếp diễn. Nhưng đứng trên khía cạnh toàn cầu, sự bất bình đẳng kinh tế đã giảm xuống trong nhiều thập kỷ qua, nhờ sự tăng lên của Trung Quốc và Ấn Độ. Sự tăng trưởng ở những quốc gia này phụ thuộc một phần vào những chính sách tự do kinh tế, cái được kích hoạt bởi sự tích lũy tư bản từ Phương Tây.

TAXMAN

The final chapters of the book, which contain Piketty’s policy recommendations, are more ideological than analytic. In these sections, Piketty’s preconceptions lead to some untenable conclusions. His main proposal is a comprehensive international agreement to establish a progressive tax on individual wealth, defined to include every kind of asset. Piketty concedes that this is a “utopian idea” but also insists that it is the best possible solution to the problem. He hedges a bit on the precise numbers but suggests that wealth below 200,000 euros be taxed at a rate of 0.1 percent, wealth between 200,000 and one million euros at 0.5 percent, wealth between one million and five million euros at 1.0 percent, and wealth above five million euros at 2.0 percent.

Although he recognizes the obvious political infeasibility of such a plan, Piketty has nothing to say about the practical difficulties, distorting effects, and potential for abuse that would inevitably accompany such intense government control of the economy. He points to estimates he has previously published in academic papers as evidence that such a confiscatory regime would not harm the labor supply in the short term. But he neglects the fact that in the long run, taxes of that level would surely lower investments in human capital and the creation of new businesses. Nor does he recognize one crucial implication of his own argument about the power of nondiminishing capital returns: if capital is so mobile and dynamic that it can avoid diminishing returns, as Piketty claims, then it will probably also avoid being taxed, which means that the search for tax revenue will have to shift elsewhere, and governments will find that soaking the rich does not really work.

Piketty also ignores other problems that would surely stem from so much wealth redistribution and political control of the economy, and the book suffers from Piketty’s disconnection from practical politics -- a condition that might not hinder his standing in the left-wing intellectual circles of Paris but that seems naive when confronted with broader global economic and political realities. In perhaps the most revealing line of the book, the 42-year-old Piketty writes that since the age of 25, he has not left Paris, “except for a few brief trips.” Maybe it is that lack of exposure to conditions and politics elsewhere that allows Piketty to write the following words with a straight face: “Before we can learn to efficiently organize public financing equivalent to two-thirds to three-quarters of national income” -- which would be the practical effect of his tax plan -- “it would be good to improve the organization and operation of the existing public sector.” It would indeed. But Piketty makes such a massive reform project sound like a mere engineering problem, comparable to setting up a public register of vaccinated children or expanding the dog catcher’s office.

Worse, Piketty fails to grapple with the actual history of the kind of wealth tax he supports, a subject that has been studied in great detail by the economist Barry Eichengreen, among others. Historically, such taxes have been implemented slowly, with a high level of political opposition, and with only modestly successful results in terms of generating revenue, since potentially taxable resources are often stashed in offshore havens or disguised in shell companies and trusts. And when governments have imposed significant wealth taxes quickly -- as opposed to, say, the slow evolution of local, consent-based property taxes -- those policies have been accompanied by crumbling economies and political instability.

Recent wealth-tax regimes in the European Union offer no exceptions to this general rule. In 2011, Italy introduced a wealth tax on real estate, but Rome retracted the plan after the incumbent government was dealt a major blow in elections last year, partly owing to public dissatisfaction with the tax scheme. Last year, the government of the Republic of Cyprus imposed the equivalent of a tax on bank deposits, only to see the tax contribute to, rather than reverse, the island’s economic struggles.

The simple fact is that large wealth taxes do not mesh well with the norms and practices required by a successful and prosperous capitalist democracy. It is hard to find well-functioning societies based on anything other than strong legal, political, and institutional respect and support for their most successful citizens. Therein lies the most fundamental problem with Piketty’s policy proposals: the best parts of his book argue that, left unchecked, capital and capitalists inevitably accrue too much power -- and yet Piketty seems to believe that governments and politicians are somehow exempt from the same dynamic.

A more sensible and practicable policy agenda for reducing inequality would include calls for establishing more sovereign wealth funds, which Piketty discusses but does not embrace; for limiting the tax deductions that noncharitable nonprofits can claim; for deregulating urban development and loosening zoning laws, which would encourage more housing construction and make it easier and cheaper to live in cities such as San Francisco and, yes, Paris; for offering more opportunity grants for young people; and for improving education. Creating more value in an economy would do more than wealth redistribution to combat the harmful effects of inequality.

Notes: I noted this article in my blog for study only. Thanks for foreignaffairs.com

 

Nguồn: finandlife| foreignaffairs.com

Tags:

Economics

Foundations vs 'Castles in the Air'

by finandlife24/04/2014 09:08

"I learned this, at least, by my experiment (trải nghiệm): that if one advances confidently in the direction of his dreams, and endeavors (nỗ lực) to live the life which he has imagined, he will meet with a success unexpected in common hours. He will put some things behind, will pass an invisible boundary (ranh giới vô hình); new, universal, and more liberal laws will begin to establish themselves around and within him; or the old laws be expanded, and interpreted in his favor in a more liberal sense (cảm giác tự do), and he will live with the license of a higher order of beings. In proportion as he simplifies his life, the laws of the universe will appear less complex, and solitude will not be solitude (cô đơn không còn là cô đơn), nor poverty poverty, nor weakness weakness. If you have built castles in the air, your work need not be lost; that is where they should be. Now put the foundations under them."

Henry David Thoreau, Walden

Humans are curious beings. We spend the majority of our time building foundations but leave little or no time for living in the actual structure, and this assumes the structure is ever completed.

Foundation-building in life is essentially an act of sacrificing (hành động hi sinh) now for the prospect of having something better later. But the key word is "prospect," which implies only a potential for reward in a future that is not certain to come.

Consider some examples of foundation-building:

  • Studying the subject in college you believe leads to a high-paying job.
  • Climbing the corporate ladder / building a resume.
  • Saving for retirement.

Building a foundation is the "responsible" thing to do. But building your castle in the air, to borrow Thoreau's metaphor (ẩn dụ), is the philosophy of living now as yourself, as opposed to waiting indefinitely to be yourself later, after having built a foundation.

Building a foundation là chịu trách nhiệm phải làm cái gì đó

Building your castle in the air là triết lý sống cho hiện tại của chính bạn, trái với việc chờ đợi một điều gì đó không rõ ràng đến với bạn sau đó, sau khi bạn đã “built a foundation”

"We have to recognize accident, i.e., the fact that there is no formula, no 'principle', which covers all things; that there is no totality or system of things. And this recognition at once supports a life of 'responsibility and adventure' and leads to scientific discovery." ~ John Andersonhttp://ir-na.amazon-adsystem.com/e/ir?t=thefinanphilo-20&l=as2&o=1&a=1619493918

Almost every reflection on life I have ever seen or heard from those who have lived a self-actualized existence says that the risk of (or indifference to) financial failure is essential for achieving the ability to spend more of your time doing what comes naturally, to be your Self, to be self-actualized.

As Thoreau suggests in his famous 'castles in the air' quote, success comes when one "advances confidently in the direction of his dreams." Therefore an act of failure in conventional terms is seen only as a temporary setback for those who live authentically in the present.

But to be self-actualized and enjoy life now does not require financial irresponsibility. All that is required, like all things in life, is a healthy balance of responsibility and adventure.

Now consider other examples of building castles in the air:

  • Do what you love now and find a way to make the finances work later.
  • Live where you want to live first and find the job second.
  • Listen to your inner voice and doubt any other voice you hear.

"What do you think I am doing now?"

For a specific example, what if you could find meaningful work now that you enjoy but it only paid a minimal amount to cover only the bare necessities? You may not be able to "save for retirement" anymore but you would already be in retirement, if you think of it with a healthy perspective: You would build the castle and live in it now, as opposed to spending most of your life building a foundation first. Why save money for "the good life" when you already live the good life?

The idea of 'castles in the air' brings to mind a similar lesson, the fisherman's parable, which is where I will leave you today:

One day a fisherman was sitting by his boat while playing with his child on a beautiful beach; his fishing pole resting against the boat.

A wealthy businessman came walking down the beach, trying to relieve some of the stress of his workday. Curious and horrified at the sight of the fisherman wasting the day, the businessman asked, "Why aren't you out fishing?"

The fisherman looked up at the businessman, smiled and replied, "Because I already caught enough fish for one day." The businessman followed, "Why don't you catch some more?"

"What would I do with them?" replied the fisherman. "You could earn extra money," said the businessman, "then with the extra money, you could buy a bigger boat, go into deeper waters, and catch more fish. Then you would make enough money to buy nylon nets (lưới nylon). With the nets, you could catch even more fish and make more money. With that money you could own two boats, maybe three boats. Eventually you could have a whole fleet of boats and be rich like me."

"Then what would I do?" asked the fisherman. "Then," said the businessman, "you could really enjoy life."

The fisherman looked at the businessman quizzically (diễu cợt) and asked, "What do you think I am doing now?" 

Nguồn: Kent Thune Blogger

Tags:

StoriesofLife

SBA|Cập nhật KQKD quý 1 năm 2014

by finandlife20/04/2014 21:52

SBA mở đầu năm 2014 với kết quả Quý 1 đáng kinh ngạc: doanh thu tăng 2.7 lần và lợi nhuận sau thuế tăng gần 4 lần so với cùng kỳ, mặc dù chi phí lãi vay cũng tăng hơn 3 lần.
Có mấy điểm cần lưu ý :

Biểu đồ sản lượng điện 5 quý gần nhất

Sản lượng điện quý 1/2014 tăng 150% so với quý 1/2013 do điều kiện thủy văn cải thiện, nước về các hồ chứa tăng cao giúp doanh số tăng mạnh. Trong đó, sản lượng điện của NMTĐ Khe Diên tăng 166% và sản lượng NMTĐ Krong H’Năng tăng 144%.

Chi phí lãi vay trung bình mỗi quý khoảng 16 tỷ đồng, con số này trong quý 1/2014 là 17.28 tỷ đồng, chênh lệch không nhiều so với con số trung bình. Đây là điều bình thường! Trong quý 1/2013, SBA đã thực hiện hạch toán kế toán chi phí lãi vay theo doanh thu bán hàng, nên chi phí lãi vay trong quý này giảm mạnh. Nhưng đây là điều không được chấp nhận, do vậy trong báo cáo kiểm toán giữa niên độ 2013, Cty buộc phải nâng mức chi phí lãi vay lên 28.1 tỷ đồng, thực chất là ghi bù lại cách hạch toán không được phép của quý 1/2013 (nhớ rằng, quý 1, báo cáo tài chính không bắt buộc phải kiểm toán).

Kế hoạch kinh doanh 2014 cho thấy, doanh thu tăng 6%, lợi nhuận sau thuế tăng 17% so với 2013. Nhưng với điều kiện thủy văn thuận lợi như quý 1/2014, nhiều khả năng SBA sẽ hoàn thành vượt kế hoạch đặt ra.

Đây là giải trình của Ban Lãnh Đạo SBA.

Lưu ý: Có phải là do thủy văn cải thiện hay chỉ đơn thuần là được tích nước tốt trong quý 4?

Bài liên quan: 

Phân tích và khuyến nghị SBA (Cổ phiếu Cty Sông Ba) 

Nguồn: finandlife

Tags: ,

Stocks

Báo cáo phân tích và khuyến nghị DQC, cập nhật tháng 04 năm 2014

by finandlife18/04/2014 09:12

Chúng tôi đánh giá cao những chuyển biến tích cực ở cả thị trường trong nước lẫn xuất khẩu của công ty thời gian qua. Những chuyển biến này đã giúp doanh thu của công ty tăng trưởng cao và ổn định. Bên cạnh đó, các khoản chi phí được kiểm soát tốt và tiến độ thu hồi công nợ được duy trì giúp cải thiện dòng tiền, khả năng thanh toán và tăng trưởng lợi nhuận cho công ty. Tuy nhiên, việc công ty chưa đàm phán được hợp đồng cung cấp vật tư, thiết bị cũ sản xuất cho Cuba trước đây có thể ảnh hưởng đến biên lợi nhuận của công ty trong thời gian tới.

Chúng tôi cho rằng, năm 2014, công ty sẽ hoàn thành kế hoạch doanh thu và vượt kế hoạch lợi nhuận, mặc dù lợi nhuận đạt được có thể thấp hơn so với năm 2013.

Với những tín hiệu khả quan từ tăng trưởng doanh thu, tiến độ thu hồi công nợ, chúng tôi nâng mức định giá theo phương pháp chiết khấu dòng tiền FCFF của cổ phiếu DQC lên 47,154 đồng, cao hơn 21% so với giá đóng cửa ngày 14/04/2014.

VFS Research

Báo cáo Phân tích và khuyến nghị DQC, lần đầu

--------------------------------

Kết quả kinh doanh tăng trưởng ấn tượng

Công ty Cổ phần Bóng đèn Điện Quang vừa trải qua năm 2013 với kết quả kinh doanh ấn tượng. Doanh thu thuần tăng 26.1% so với năm trước đạt 795.1 tỷ đồng, trong khi giá vốn chỉ tăng 10.9% giúp công ty đạt 248.9 tỷ đồng lợi nhuận gộp, tăng 80.4%.

Trong năm, hoạt động thu hồi công nợ phải thu từ khách hàng Consumer Import (Cuba) được duy trì ổn định giúp công ty tiếp tục có được khoản doanh thu tài chính lớn từ chênh lệch tỷ giá và lãi bán hàng trả chậm (115.2 tỷ so với 117.3 tỷ năm 2012). Cùng với đó là việc kiểm soát tốt các chi phí tài chính, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp. Kết quả lợi nhuận sau thuế cổ đông công ty mẹ đạt 121.3 tỷ đồng, tăng 147.5% so với năm 2012, vượt 130% kế hoạch đặt ra.

Kế hoạch lợi nhuận 2014 thận trọng

Bước sang năm 2014, công ty đặt kế hoạch 1,000 tỷ đồng doanh thu thuần, tăng 26% so với thực hiện 2013 trên cơ sở đánh giá chi tiết khả năng tiêu thụ ở các thị trường nội địa, xuất khẩu và các kênh tiêu thụ hiện có của công ty. Tuy nhiên, kế hoạch lợi nhuận công ty đặt ra lại rất khiêm tốn. Lợi nhuận trước thuế kế hoạch chỉ đạt 82 tỷ đồng, giảm 50% so với kết quả thực hiện năm 2013.

Ban lãnh đạo công ty lý giải rằng, năm 2013 công ty tìm kiếm được đối tác tiêu thụ vật tư thiết bị tồn kho sản xuất cho Cuba trước đây với giá bán tương đối cao so với giá vốn đem lại giá trị kinh tế và lợi nhuận cao cho công ty. Năm 2014, việc đàm phán tiếp tục hợp đồng cũng như tìm kiếm đối tác tiêu thụ mới đến thời điểm này chưa đem lại kết quả. Do đó, để đảm bảo tính thận trọng trong việc đặt kế hoạch kinh doanh, công ty chưa đưa khoản lợi nhuận này vào kế hoạch năm 2014.

Mặc dù vậy, chúng tôi cho rằng, với kế hoạch doanh thu tăng trưởng mạnh, tiến độ thu hồi công nợ phải thu tiếp tục được duy trì ổn định, nhiều khả năng công ty sẽ hoàn thành vượt kế hoạch lợi nhuận đặt ra.

Doanh thu xuất khẩu tăng trưởng đột biến

Năm 2013, mặc dù gặp không ít khó khăn do bất ổn chính trị ở thị trường Ai Cập và sự cạnh tranh gay gắt đến từ các sản phẩm chiếu sáng Trung Quốc… doanh thu xuất khẩu của DQC vẫn tăng trưởng 236% so với năm 2012, đạt 301 tỷ đồng, chiếm 37.8% tổng doanh thu của công ty. Đóng góp chủ yếu vào sự tăng trưởng đột biến này theo ban lãnh đạo công ty là do trong năm công ty tìm kiếm được đối tác tiêu thụ lượng vật tư thiết bị tồn kho sản xuất cho Cuba trước đây. Bên cạnh đó, các thị trường truyền thống tại Đông Nam Á, Trung và Nam Mỹ vẫn duy trì được mức tăng trưởng tốt. Trong năm công ty cũng đã mở thêm được một thị trường mới ở Trung Đông.

Công ty cũng cho biết hiện tại đang xúc tiến thâm nhập vào thị trường Chi Lê để đón đầu việc Việt Nam gia nhập TPP. Dự kiến công ty sẽ hưởng lợi không nhỏ nếu hiệp định này được kí kết.

Doanh thu nội địa tăng trưởng khá

Năm 2013, doanh thu nội địa đạt 478 tỷ đồng, giảm 44 tỷ đồng so với năm 2012. Nguyên nhân là do năm 2013 doanh thu từ công ty con đóng góp bị giảm do DQC tái cơ cấu ngành hàng, sản phẩm công ty con được phân phối, chỉ phân phối sản phẩm có hiệu quả. Còn lại, doanh thu các kênh tiêu thụ nội địa chính đều tăng trưởng so với năm 2012. Trong đó, kênh tiêu thụ truyền thống đạt mức tăng trưởng 15%. Kênh tiêu thụ hiện đại đạt mức tăng trưởng 87% về doanh thu.

Chúng tôi cho rằng, công tác xuất khẩu của công ty thời gian tới vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro đến từ yếu tố chính trị, cạnh tranh… Đặc biệt, việc công ty chưa đàm phán được hợp đồng cung cấp vật tư, thiết bị tồn kho sản xuất cho Cuba trước đây có thể sẽ ảnh hưởng phần nào đến doanh thu xuất khẩu của công ty năm 2014. Trong khi đó, doanh thu nội địa sẽ có sự tăng trưởng mạnh nhờ đẩy mạnh tiêu thụ các sản phẩm mới, đặc biệt dòng sản phẩm LED và nâng cấp các kênh tiêu thụ như kênh công trình – dự án; siêu thị, trung tâm điện máy, truyền hình…

Biên lãi gộp có thể sụt giảm

Biên lãi gộp của công ty năm 2013 cải thiện mạnh nhờ đẩy mạnh tiêu thụ các sản phẩm khác biệt có lợi nhuận biên cao như đèn compact chống ẩm, đèn DoubleWing, đèn LEDs… và đặc biệt là việc tiêu thụ được một phần vật tư hàng hoá tồn kho sản xuất cho Cuba trước đây với giá vốn thấp. Vì vậy, bước sang năm 2014, biên lãi gộp của DQC có thể sụt giảm nếu công ty không tìm kiếm được đối tác tiêu thụ lượng vật tư hàng hoá này hoặc lượng vật tư hàng hoá tồn kho không còn nhiều như năm 2013. Tuy nhiên chúng tôi cho rằng, mức độ sụt giảm biên lãi gộp là không nhiều. Với dự báo doanh thu tăng trưởng mạnh, lãi gộp năm 2014 có thể ở mức tương đương với năm 2013.

Kiểm soát chi phí tốt hơn

Cả Chi phí tài chính, chi phí bán hàng và chi phí quản lý đều được kiểm soát tốt hơn trong năm 2013 giúp công ty cải thiện biên lãi trước thuế và biên lãi ròng.

Năm 2014, chi phí lãi vay nhiều khả năng sẽ tiếp tục giảm do lãi suất giảm và dư nợ dài hạn đến hạn trả giảm dần (mỗi năm công ty thanh toán được khoảng 100 tỷ đồng nợ dài hạn đến hạn trả). Kỳ vọng công ty sẽ tiếp tục quản lý tốt hơn chi phí bán hàng, chi phí quản lý, qua đó tiếp tục có được biên lợi nhuận khả quan.

Công nợ tiếp tục chuyển biến tích cực

Tiến độ thu hồi khoản phải thu từ đối tác Consumer Import- Cuba tiếp tục duy trì ổn định trong năm 2013. Tổng công nợ thu được trong năm là khoảng 9 triệu USD, tương đương 178.4 tỷ đồng, phù hợp với lịch thanh toán hai bên đã thống nhất. Tổng số nợ mà khách hàng Cuba phải trả cho DQC đến thời điểm 31/12/2013 là khoảng 30.3 triệu USD, tương đương 640.5 tỷ đồng. Số tiền này sẽ tiếp tục được thanh toán dần đều trong 3 năm tới.

Cùng với đó, công ty tiếp tục nhận được khoản lãi chênh lệch tỷ giá lớn. Năm 2007, tỷ giá liên ngân hàng cuối năm chỉ là 16,114 VND/USD, với tỷ giá hạch toán cuối năm 2013 là 21,125 VND/USD, DQC sẽ nhận khoảng 5,011 đồng lãi chênh lệch tỷ giá đã thực hiện cho mỗi USD nhận được từ đối tác Cuba. Khoản lãi chênh lệch tỷ giá DQC ghi nhận trong năm 2013 là 49.21 tỷ đồng, chủ yếu đến từ chênh lệch tỷ giá khoản phải thu từ đối tác Cuba.

Chúng tôi cho rằng, với việc duy trì tiến độ trả nợ trong 3 năm liên tiếp gần đây, khách hàng Cuba sẽ tiếp tục thanh toán đúng hẹn cho DQC trong năm 2014 giúp công ty cải thiện dòng tiền, thu xếp nguồn tiền trả nợ vay dài hạn và có được khoàng 48 – 50 tỷ đồng lãi chênh lệch tỷ giá.

Với khoản tiền thu hồi công nợ lớn mỗi năm, DQC thu xếp một phần để trả nợ vay dài hạn đã vay để thực hiện dự án với đối tác Cuba. Số dư nợ gốc của khoản vay này giảm dần từ năm 2009 (mỗi năm trả được khoảng 100 tỷ) đến cuối năm 2013 còn khoảng 210 tỷ đồng (lãi suất 9%/năm, thời gian ân hạn đến 10/12/2015) giúp công ty giảm bớt áp lực vay nợ, cải thiện các chỉ tiêu khả năng thanh toán.

Chưa ghi nhận doanh thu từ dự án Việt - Ven

Năm 2013, dự án liên doanh Việt - Ven đã đi vào sản xuất ổn định (giai đoạn 1) cung cấp sản phẩm tiết kiệm điện cho các chương trình của Chính phủ Venezuela giúp DQC có được nguồn doanh thu ổn định từ việc cung cấp bán thành phẩm cho dự án. Bên cạnh đó, DQC còn khoảng 8 triệu USD doanh thu từ việc cung cấp máy móc thiết bị, dây chuyền lắp đặt cho dự án này (hợp đồng EPC). Ban lãnh đạo công ty cho biết, trong năm công ty chưa hạch toán khoản doanh thu này do chưa nghiệm thu xong giai đoạn 1 của dự án. Việc nghiệm thu phụ thuộc nhiều vào phía bạn do đó công ty cũng chưa xác định được thời điểm cụ thể sẽ hạch toán khoản doanh thu này.

Công tác đầu tư xây dựng

Năm 2013, nhằm nâng cao năng lực và tăng cường tính chủ động trong sản xuất, DQC đã đầu tư mới 1 dây chuyền sản xuất vỏ bóng compact công suất lớn tại xí nghiệp Đèn Ống, cải tạo dây chuyền sản xuất bóng đèn FPL tại chi nhánh Đồng An, lắp đặt thêm 1 dây chuyền lắp ráp đèn Compact tại xí nghiệp Ống Thuỷ Tinh.

Bước sang năm 2014, DQC lên kế hoạch dành khoảng 120 tỷ đồng cho công tác đầu tư xây dựng, trong đó 58 tỷ đồng dành cho đầu tư mặt bằng nhà xưởng, văn phòng làm việc. Công ty dự định sử dụng khoảng 75 tỷ đồng vốn tự có và vay ngân hàng phần còn lại để tài trợ cho kế hoạch này.

Hiện tại, công ty đang có 2 xí nghiệp đặt tại KCN Biên Hoà 1. Trước thông tin KCN này sẽ phải di dời thời gian tới, ban lãnh đạo công ty vạch ra 2 hướng giải quyết. Một là có thể mua đất mới đầu tư nhà xưởng. Và Hai là mở rộng chi nhánh Đồng An hiện tại. Đây cũng là một trong những khó khăn, có thể ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất và kết quả kinh doanh của công ty năm 2014.

Cổ tức 2013 vượt kế hoạch

Nghị quyết hội đồng quản trị ngày 10/04/2014 của công ty đã thông qua chốt danh sách cổ đông để chi trả cổ tức  đợt 2 năm 2013 tỷ lệ 10% bằng tiền mặt. Như vậy, cổ tức thực hiện năm 2013 của DQC là 20% tiền mặt, vượt 33% so với kế hoạch đặt ra đầu năm. Năm 2014, công ty tiếp tục đăt kế hoạch chi trả cổ tức 20% bằng tiền mặt.

Dự phóng và định giá

Ban lãnh đạo công ty cho biết, Quý 1/2014, doanh thu của công ty ước đạt 215 tỷ đồng, tăng 14.3% so với cùng kỳ. Lợi nhuận trước thuế ước đạt 26 tỷ đồng, tương đương cùng kỳ năm trước.

Chúng tôi cho rằng, năm 2014, DQC sẽ hoàn thành kế hoạch doanh thu 1,000 tỷ đồng. Lợi nhuận gộp ước đạt 270 tỷ đồng (biên lãi gộp giảm). Tiến độ thu hồi công nợ tiếp tục duy trì đúng hẹn giúp công ty có khoảng 75 tỷ đồng doanh thu từ lãi chênh lệch tỷ giá và lãi bán hàng trả chậm (lãi bán hàng trả chậm giảm). Lợi nhuận trước thuế ước đạt 125 tỷ đồng, giảm 24% so với năm 2013, vượt 52.4% kế hoạch 2014.

Với những tín hiệu khả quan từ tăng trưởng doanh thu, tiến độ thu hồi công nợ, chúng tôi nâng mức định giá theo phương pháp chiết khấu dòng tiền FCFF của cổ phiếu DQC lên 47,154 đồng, cao hơn 21% so với giá đóng cửa ngày 14/04/2014.

 

Nguồn: finandlife|VFS Research

Tags:

Stocks

Nhận định về dòng tiền của Alan

by finandlife18/04/2014 08:53

Trước hết, có vài lý do khiến các nhà tài chánh Singapore đổ tiền vào thị trường Việt Nam:

1. Hiện nay, Singapore đang được các nhà đầu tư từ Mỹ, Âu, Úc và nhất là Trung Quốc đem tiền đến ủy thác, vì sự tín nhiệm Singapore đã tạo được trong việc điều hành kinh tế và thị trường tài chánh trong 2 thập kỷ rồi. Vì sự thặng dư tiền gởi lên đến mức đỉnh, nên các định chế tài chánh Singapore bắt buộc phải tái đầu tư vào các nơi khác.

2. Với dân số ít ỏi và thị trường nội địa eo hẹp, Singapore luôn tìm một chân đứng bên ngoài. Bốn nước Indonesia, Việt Nam, Thái Lan và Myanmar được coi như đối tác chiến lược tại ASEAN. Cần lưu ý là dòng tiền Singapore vẫn ưu ái với Indonesia và Thái Lan hơn.

3. Vì các nhà đầu tư Trung Quốc đang có khuynh hướng “capital flight” (trốn khỏi Trung Quốc) nên dòng tiền đã chảy rất mạnh vào Âu Mỹ Úc và hai trung tâm tài chánh tự do nhất Á Châu: Hồng Kông và Singapore.

Dòng tiền này đã tạo nên nhiều bong bóng tài sản, nhất là bất động sản, tại Singapore. Nguy cơ lạm phát kèm với sự cố “vỡ bong bóng” khiến chánh phủ Singapore phải khuyến khích các định chế tài chánh đem tiền ra nước ngoài nhằm làm nguội bớt sức ép.

4. Hiện tượng này sẽ tiếp tục trong 3 năm tới. Nhiều chuyên gia tiên đoán là trong khoảng thời gian này, hay ngay sau đó, Singapore có thể phải chịu đựng một cuộc khủng hoảng tài chánh khá lớn. Nó sẽ xẩy đến khi một trong những sự cố sau đây xuất phát:

Một, dòng tiền từ Trung Quốc ngừng chảy vì nhiều lý do: khủng hoảng nợ xấu tại Trung Quốc đạt điểm “no return”; chánh phủ Trung Quốc siết chặt tín dụng (đã đến 23 ngàn tỷ đô la) và kiểm soát “capital flight”; hay biến loạn kinh tế và xã hội tại Trung Quốc bùng nổ.

Hai, các tài sản mà định chế tài chánh của Singapore tái đầu tư vào quanh ASEAN sẽ sụt giá trầm trọng. Ai cũng biết là bong bóng bất động sản tại Indonesia hay Việt Nam cũng to lớn không kém Singapore và khả năng nợ xấu còn cao hơn nhiều. Cổ phiếu tại Việt Nam, Thái Lan và Indonesia đang bị “làm giá” và “thổi phồng” với sự thiếu minh bạch và nhiều số liệu thống kê giả tạo.

Ba, chánh phủ Singapore (MAS: Monetary Authority of Singaore) không thể giữ lãi suất gần như zero sau khi Mỹ và Âu Châu thả lỏng lãi suất của họ. Điều này có thể là “trigger” (mồi lửa) để làm vỡ bong bóng tài sản và tạo nhiều nợ xấu cho các ngân hùng nội địa vì tín dụng cho người tiêu dùng đã gia tăng đáng ngại (tăng 48% từ 5 năm nay).

Do đó, có thể kết luận là Singapore đã đỡ cho khủng hoảng tài chánh và bong bóng nợ xấu tại Việt Nam phần nào khi chia sẻ với Việt Nam số tiền đầu tư từ Âu Mỹ và Trung Quốc. Tuy nhiên, cuộc chơi có thể tàn bất cứ lúc nào trong vài năm tới. Khi Singapore ngồi tiếc rẻ thời vàng son bây giờ thì nhiều doanh nhân và doanh nghiệp Việt Nam tùy thuộc vào dòng tiền cũng sẽ cháy túi theo.

Alan Phan

-----------------------------------

Một bài viết gần đây cho thấy các tỷ phú Trung Quốc đã bán hết tài sản ở nước của họ, dùng tiền đó đầu tư ra bên ngoài.

The richest man in Asia is selling everything in China

April 16, 2014

Sovereign Valley Farm, Chile

Here’s a guy you want to bet on– Li Ka-Shing.

Li is reportedly the richest person in Asia with a net worth well in excess of $30 billion, much of which he made being a shrewd property investor.

Li Ka-Shing was investing in mainland China back in the early 90s, way back before it became the trendy thing to do. Now, Li wants out of China. All of it.

Since August of last year, he’s dumped billions of dollars worth of his Chinese holdings. The latest is the $928 million sale of the Pacific Place shopping center in Beijing– this deal was inked just days ago.

Once the deal concludes, Li will no longer have any major property investments in mainland China.

This isn’t a person who became wealthy by being flippant and scared. So what does he see that nobody else seems to be paying much attention to?

Simple. China’s credit crunch.

After years of unprecedented monetary expansion that has put the economy in a precarious state, the Chinese government has been desperately trying to reign in credit growth.

The shadow banking system alone is now worth 84% of GDP according to an estimate by JP Morgan. The IMF pegs total private credit at 230% of GDP, jumping by 100% in the last few years.

Historically, growth rates of these proportions have nearly always been followed by severe financial crises. And Chinese leaders are doing their best to engineer a ‘soft landing’.

If they’re successful, the world will only see major drops in global growth, stocks, property, and commodity prices.

If they fail, the spillover could become pandemic.

This isn’t important just for Asian property tycoons like Li Ka-Shing. Even if you don’t know Guangzhou from Hangzhou from Quanzhou, there are implications for the entire world.

Here in Chile is a great example.

Chile is among the top copper producers worldwide, China among its top consumers. With a major slowdown in China, however, copper prices have dropped considerably.

Consequently, the Chilean economy has slowed. The peso is down nearly 10% against the US dollar in recent months, and the central bank is slashing rates trying to prop up growth.

There are similar situations playing out across the globe.

Not to mention, China could put the entire global financial system on its back just by dumping a portion of its Treasuries in order to defend the yuan.

Now, you’d think that a major credit crunch with far-reaching consequences in the world’s second largest economy, its largest manufacturer, and its largest holder of US dollar reserves, would be constant front-page news.

But it’s not.

Most traditional investors are unaware that what’s happening in China will likely have far greater implications to their investment portfolios than the policies of Janet Yellen and Barack Obama combined. At least for now.

And folks who don’t see this coming and keep buying at the all-time high may see their portfolios turned upside down. Quickly.

At the same time, some investors who are conservative and cashed up may realize a real ‘blood in the streets’ moment.

Again, using Chile as an example, I’m starting to see over-leveraged property owners coming to the market in droves ready to make a deal. This is great news because my shareholders and I are able to buy far more property with US dollars than we could even just six months ago.

I expect this trend to hold given that China is just at the beginning of its process.

It’s said that the Chinese word for “crisis” is a combination of “danger” and “opportunity”.

This isn’t entirely accurate. ‘Weiji’ can have several meanings, but is probably best translated as ‘dangerous’ and ‘crucial point’.

We may certainly be at that crucial point, and now might be a good time to take another look at your finances and consider selling before a major crash. The richest man in Asia certainly thinks so.

 

Nguồn: finandlife|Alan Phan Blog|sovereignman.com

Tags:

Economics

AUTOFEED

DISCLAIMER

I am a Senior Associate – Investment at TOP 2 Securities Co., in Vietnam. I started working in investment field as a junior analyst at a Fund in 2007. I have more than 12 years of experience in investment analysis. I have a deep understanding of Vietnam macroeconomics, equity research, and seeking investment opportunities. This is my private Blog. I use this Blog to store information and share my personal views. I don't guarantee the certainty. And I am not responsible when the user uses the information from the Blog for trading/investing activities.

Designed by: Nguyễn Chí Hiếu