Đòn cân nợ và chiến lược đầu tư

by Admin24/04/2013 19:22

Trong bối cảnh lãi suất đang cao ngất ngưởng hiện nay, nợ vay bỗng chốc trở thành gánh nặng không chỉ cho các doanh nghiệp mà còn cho cả NĐT chứng khoán (viết từ năm 2011)

Vậy nợ vay ảnh hưởng thế nào đến giá CP của chính DN? Đòn cân nợ này ảnh hưởng đến hệ số rủi ro của NĐT ra sao?

Nghiên cứu này sử dụng dữ liệu nợ vay, tài sản và biến động giá của tất cả CP niêm yết qua 2 giai đoạn: giai đoạn tăng bắt đầu từ ngày 24-2-2009 đến ngày 22-10-2009 và giai đoạn giảm bắt đầu từ ngày 22-10-2009 đến nay. Trong từng giai đoạn, việc nghiên cứu lại được tiến hành trên 3 nhóm CP có mức độ sử dụng nợ khác nhau.

Cụ thể giai đoạn tăng: nhóm DN có nợ vay trên tổng tài sản dưới 25%; nhóm DN có nợ vay trên tổng tài sản từ 25-50%; nhóm DN có nợ vay trên 50% tổng tài sản. Giai đoạn giảm: nhóm DN có nợ vay trên tổng tài sản dưới 20%; nhóm DN có nợ vay trên tổng tài sản từ 20-40%; và nhóm DN có nợ vay trên 40% tổng tài sản. Biến động giá của các CP được so sánh với HNX Index.

Kết quả cho thấy, tỷ lệ nợ vay trên tổng tài sản của tất cả DN niêm yết trên thị trường trong giai đoạn tăng trưởng là 36,9% cao hơn giai đoạn suy thoái (31,8%) (biểu đồ 1). Đây là điều dễ hiểu vì trong giai đoạn tăng trưởng, nền kinh tế được hỗ trợ bởi mức lãi suất thấp, nhu cầu toàn xã hội tăng cao, tạo điều kiện thuận lợi cho các DN mở rộng đầu tư, mở rộng sản xuất, tăng cường vay nợ. Còn trong giai đoạn giảm, lãi suất tăng cao, nhu cầu xã hội thấp, việc sản xuất, đầu tư gặp khó khăn, chiến lược ưu tiên là cắt giảm chi phí, thu hẹp hoạt động, giảm nợ vay.

Biểu đồ 1:

  

Phân tích tương quan cho thấy tỷ lệ nợ vay trong cơ cấu tài sản của DN có ảnh hưởng đến mức độ biến động giá CP trên thị trường. Mối liên quan này rõ ràng hơn trong giai đoạn thị trường giảm khi hệ số tương quan trong giai đoạn này là -0,15, trong khi đó hệ số này trong giai đoạn thị trường tăng chỉ là 0,07. Dấu (-) của hệ số tương quan trong thị trường giảm cho biết những DN sử dụng nhiều nợ vay chịu áp lực giảm giá nhiều hơn so với các DN có cơ cấu nợ vay ít hơn. Dấu (+) của hệ số tương quan trong thị trường tăng cho biết những DN sử dụng nhiều nợ vay lại có khả năng tăng giá tốt hơn. Kết quả trên một lần nữa được khẳng định khi chúng ta xem xét xác suất lựa chọn CP có biến động giá tích cực hơn chỉ số chung toàn thị trường.

Trong giai đoạn thị trường bất lợi, xác suất chọn phải CP giảm giá mạnh hơn HNX Index ở nhóm nợ vay cao nhất lên đến 44,2%, xác suất này giảm dần ở nhóm nợ vay trung bình (38,3%) và chỉ còn 17,5% ở nhóm nợ vay thấp nhất. Như vậy, trong giai đoạn thị trường giảm, NĐT nên trú ẩn vào các CP có tình hình tài chính lành mạnh, tỷ lệ vay nợ thấp và tránh xa những CP có đòn cân nợ cao (biểu đồ 2).

Biểu đồ 2:

Thế nhưng, chiến lược trên không phải là chìa khoá vạn năng trong bất kỳ tình hình thị trường nào. Ở giai đoạn tăng, việc đặt cược vào nhóm CP có đòn cân nợ lớn không hẳn sẽ mang lại kết quả đáng buồn như trong giai đoạn thị trường giảm. Kết quả nghiên cứu cho thấy, nhóm CP sử dụng nợ vay cao nhất có xác suất chiến thắng thị trường cao nhất (61%); nhóm sử dụng nợ vay thấp nhất xác suất này là 60%, nhóm vay nợ trung bình thấp nhất (chỉ 51,6%) (biểu đồ 3).

Biểu đồ 3:

 

Như vậy, để tận dụng những thuận lợi của thời kỳ tăng trưởng như lãi suất thấp, nhu cầu xã hội cao…, bên cạnh danh mục truyền thống đầu tư vào những CP vững mạnh, khả năng tạo tiền tốt, tỷ lệ nợ vay thấp, NĐT nên dành một phần danh mục của mình cho những CP có kế hoạch kinh doanh đột biến, những CP có nhiều tham vọng, dám sử dụng nhiều nợ vay nhằm tăng hiệu quả đa dạng hóa giúp mang lại suất sinh lợi cao nhất cho NĐT.

 

Kết quả nghiên cứu trên cùng với kết luận của Modigliali và Miller (MM): “Trong thị trường hoàn hảo, việc vay nợ để mua vào CK của NĐT cá nhân không khác biệt so với việc vay nợ của chính DN phát hành CP đó”. Nghĩa là NĐT có thể tự tạo đòn bẩy tài chính thay cho DN. Trong bối cảnh giao dịch ký quỹ (margin) sắp được hợp pháp hóa, NĐT nên bắt đầu nhìn nhận lại hệ số rủi ro tài chính của mình, trong đó nên xem xét thêm đòn cân nợ vay tại các DN đầu tư để tránh ước lượng mức rủi ro quá thấp so với nguy cơ thật sự phải chịu. 

Nguồn: finandlife|một version khác trên Báo Đầu Tư Tài Chính

Tags:

StockAdvisory

HD tuyệt đẹp

by Admin23/04/2013 09:40

Tags:

Cập nhật LAS 17/04/2013

by Admin18/04/2013 18:15

Nếu giả định toàn bộ cổ tức bằng tiền mặt và cổ phiếu của năm 2012 được chia hết trong năm 2013 thì mức giá hợp lý của LAS vào cuối 2013 sẽ là 28,800 đồng, tương đương giá chưa hưởng quyền sẽ là 37,600 đồng.  Mức giá hợp lý cập nhật lần này không nhiều khác biệt so với báo cáo lần đầu mà chúng tôi đã phát hành vào ngày 24/08/2012. Tính đến ngày 17/04/2013, giá LAS đã tăng 40.1% so với cập nhật trước đó, và hiện mức giá đang ở rất sát so với mức giá hợp lý mà chúng tôi tính toán.

Chúng tôi tiếp tục đánh giá cao LAS, chúng tôi cho rằng kết quả kinh doanh năm 2013 của LAS sẽ ổn định so với năm 2012. Tuy nhiên, việc công ty quyết định dừng dự án Sun Phát Amon phần nào làm giảm tính hấp dẫn cho những nhà đầu tư đặt kỳ vọng lớn vào tăng trưởng của LAS trong tương lai.

LỊCH SỬ BÁO CÁO PHÂN TÍCH LAS:

Báo cáo lần đầu: VFS Friday 24/08/2012.

Thông tin chi tiết mời Quý nhà đầu tư xem trong LAS Cập nhật 17/04/2013.

Tags:

Stocks

Tâm lý chốt lãi và thực tế thua lỗ

by Life18/04/2013 13:13

 

Rất nhiều nghiên cứu thực nghiệm cho thấy ở cả những thị trường phát triển và đang phát triển, tâm lý và hành vi vẫn chi phối giao dịch hàng ngày của thị trường. Một trong những diễn biến tâm lý khá phổ biến và chính hành động bất hợp lý này làm ảnh hưởng đến kết quả giao dịch đó là xu hướng nắm giữ cổ phiếu lỗ quá lâu và bán ra cổ phiếu lời quá sớm.

Nhiều học giả lý giải cho động thái kỳ lạ này là vì nhu cầu tự thể hiện, nhu cầu được mọi người tưởng thưởng. Trong đó, việc bán ra cổ phiếu lời sớm nhằm chứng tỏ quyết định đầu tư chính xác của mình, điều đó giúp nhà đầu tư thỏa mãn  nhu cầu thể hiện sự giỏi giang; còn việc bán đi cổ phiếu lỗ là thừa nhận thất bại, thừa nhận sai lầm của mình và chính điều này làm nhà đầu tư trì hoãn hoặc ngần ngại đưa ra quyết định. Điều này rất phổ biến trong thực tế, hầu như nhà đầu tư nào tham gia thị trường cũng đều nhớ và kể lại rất rành mạch về những chiến tích, về những cổ phiếu tăng giá vài lần, mà khó tìm thấy những nhà đầu tư tự thú về những thua lỗ.

Giới học giả phương Tây gọi sự bất hợp lý trong giao dịch này là hiệu ứng ngược vị thế (Disposition Effect). Trong một nghiên cứu tiêu biểu ở Mỹ cho thấy, nhà đầu tư ở thị trường này có tỷ lệ hiện thực hóa các khoản đầu tư có lãi lên đến 33.7%, trong khi đó, tỷ lệ hiện thực hóa các khoản đầu tư thua lỗ chỉ là 25.2%. Một nghiên cứu trên thị trường Trung Quốc cũng cho thấy tỷ lệ hiện thực hóa khoản đầu tư có lãi lên đến 51.9%, trong khi đó, tỷ lệ hiện thực hóa các khoản đầu tư thua lỗ chỉ là 31%. Điều này có nghĩa là, nhà đầu tư trên thị trường Mỹ và Trung Quốc rất hứng thú chốt lãi, nhưng lại dè dặt trong cắt lỗ. Trong một nghiên cứu của tác giả cuối 2012, những biểu hiện tương tự cũng tồn tại ở thị trường chứng khoán Việt Nam, có đến 80% nhà đầu tư rơi vào hiệu ứng ngược vị thế, tức thích hiện thực hóa khoản lời hơn khoản lỗ, mức độ sẵn lòng bán cổ phiếu lời là 33.7%, trong khi đó, mức độ sẵn lòng bán cổ phiếu lỗ chỉ là 25.2%.

Kết quả nghiên cứu tại Việt Nam cũng cho thấy, những nhà đầu tư có giá trị giao dịch lớn và những tài khoản của nam giới ít chịu ảnh hưởng của xu hướng thích hiện thực hóa khoản đầu tư có lãi hơn so với khoản đầu tư thua lỗ. Như vậy, những nhà đầu tư có giá trị giao dịch thấp, những nhà đầu tư nữ bị ảnh hưởng của hiệu ứng ngược vị thế mạnh nhất. Theo suy luận của tác giả, những nhà đầu tư có giá trị giao dịch lớn là những nhà đầu tư chuyên nghiệp, xem hoạt động đầu tư là một kênh mang về thu nhập thực thụ, do vậy ở họ có những nghiên cứu kỹ lưỡng cách thức giao dịch, đòi hỏi kỹ năng giao dịch cao cấp giúp hạn chế hành động bất hợp lý. Trong khi đó, những nhà đầu tư có giá trị giao dịch thấp lại thiếu đi những điều này. Về giới tính, giáo sư Odean có lần nói rằng « đầu tư là công việc của nam giới ». Có lẽ chính việc xác định vị thế công việc thuộc về phái mạnh mà ở họ có sự đầu tư nhiều hơn về kiến thức và trải nghiệm. Do đó, nam giới có thể kiểm soát tốt hơn những giao dịch bất hợp lý so với nữ.

Trong nghiên cứu ở Mỹ, những cổ phiếu được chốt lãi sớm tiếp tục tăng giá 2.35% trong năm tiếp theo, trong khi đó, những cổ phiếu lỗ mà nhà đầu tư ngại bán ra lại tiếp tục giảm giá 1.06%. Như vậy hành động bất hợp lý đã làm nhà đầu tư đánh mất 3.41% tỷ suất sinh lợi trong một năm. Do vậy, việc nhìn nhận lại động thái giao dịch của chính mình có thể giúp nhà đầu tư cải thiện thành quả trong tương lai.

Thay cho lời kết, tác giả xin lược trích những nguyên tắc trong giao dịch mà Alexander Elder khuyên nhà đầu tư. Nếu bạn cảm thấy mình giao dịch nhiều nhưng kết quả vẫn nghèo nàn thì hãy ngưng giao dịch một thời gian và đánh giá lại những giao dịch đã qua của mình ; hãy lập kế hoạch trước và không nên ra quyết định mua bán trong giờ giao dịch ; hãy đặt mục tiêu sống sót sau một khoản thời gian dài, sau đó mới là sự tăng trưởng vững chắc của vốn đầu tư và cuối cùng là tạo ra lợi nhuận cao. Và cảnh giới cao nhất là “nhà giao dịch chứng khoán phải rèn luyện để đạt đến trình độ, chiến thắng không cảm thấy quá hưng phấn, thua lỗ không cảm thấy suy sụp”.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Alexander Elder, sách Trading For A Living.

[2] Chen, Gong-Meng, Kenneth A. Kim, John R. Nofsinger, and Oliver M. Rui, 2004, Behavior and performance of emerging market investors: Evidence from China, working paper.

[3] Terrance Odean, 1998, “Are Investors Reluctant to Realize Their Losses?”, Journal of Finance, 53 (5), 1775-1798.

Nguồn: finandlife|một version khác trên Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn  

Tags:

Psychology

AUTOFEED

DISCLAIMER

Blog này phục vụ cho mục đích lưu trữ, tham khảo thông tin và thảo luận. Chúng tôi không đảm bảo tính chắc chắn và không chịu trách nhiệm khi người sử dụng thông tin từ website cho hoạt động đầu tư, mua bán chứng khoán của mình.

Designed by: Nguyễn Chí Hiếu