“Mua cổ phiếu nào bây giờ con? Haizzz… Mẹ ơi, đừng hỏi con thế nữa!”

by finandlife24/05/2013 10:41

Đây rõ ràng là câu hỏi mà cả dân học thuật về kinh tế lẫn những người làm việc trong ngành chứng khoán hay gặp nhất. Thật khó để có câu trả lời thỏa đáng… Thử xem G.S Mankiw – G.S kinh tế hàng đầu thế giới nhìn nhận vấn đề này thế nào nhé!

 

 

Một vài tuần sau khi chứng khoán leo lên đỉnh cao mới, mẹ tôi cũng đã lên 85 tuổi.

Bà ấy thường hỏi tôi, “mẹ nên mua cổ phiếu nao bây giờ?”

Lần đầu tiên bà hỏi tôi câu đó là khi tôi còn chưa tốt nghiệp Princeton, chuyên ngành kinh tế học. Bà ấy đã hỏi lại câu đó khi tôi tốt nghiệp M.I.T, rồi nhận bằng tiến sĩ kinh tế. Và bà ấy cứ lập lại câu đó trong suốt 3 thập kỷ qua khi tôi trở thành giáo sư kinh tế của Harvard.

Không may, bà ấy không bao giờ thỏa mãn với câu trả lời của tôi, hầu hết câu trả lời đều là sự lãng tránh (evasive). Không có bất cứ công cụ kinh tế học nào của nhà kinh tế học giúp chúng tôi lựa chọn cổ phiếu tốt.

Tuy nhiên, những nhà kinh tế học như chúng tôi đã viết vô vàn những nghiên cứu về thị trường chứng khoán. Và bên dưới là những tóm tắt mà tôi biết:

THỊ TRƯỜNG HẤP THỤ THÔNG TIN RẤT NHANH Một lý thuyết nổi bật trên thị trường chứng khoán là thị trường hiệu quả, giải thích tại sao lại khó trả lời những câu hỏi của mẹ tôi. Nếu tôi đã biết bất kỳ thông tin tốt nào về công ty, thông tin đó đã được phản ảnh vào giá trước khi tôi có hành động. Trừ khi bạn có thông tin nội gián, bạn sẽ khó biết cổ phiếu nào nên mua hơn cổ phiếu nào.

Lý thuyết này được công bố vào năm 1973 với đề tài “A Random Walk Down Wall Street”, bởi Burton G.Malkiel, chuyên gia kinh tế của Princeton. Ông ấy đã đề nghị rằng nhà đầu tư nên mua những quỹ đầu tư chi phí thấp (low-cost index funds). Hầu hết những nhà kinh tế tôi biết đều làm theo lời khuyên này.

GIÁ BIẾN ĐỘNG THƯỜNG KHÔNG THỂ GIẢI THÍCH Thập chí thay đổi của giá là không thể nào dự báo, theo lý thuyết thị trường hiệu quả, chúng ta có thể giải thích những thay đổi này sau khi nó đã diễn ra. Chúng ta có thể xác định những thông tin có thể làm cho cổ phiếu tăng và giảm. Đôi lúc chúng ta có thể làm được điều đó, nhưng thường thì không thể.

Vào năm 1981, Robert J. Shiller, nhà sáng lập của tờ báo này (nytimes) và là giáo sư kinh tế tại Yale, đã công bố một nghiên cứu về kinh tế Mỹ với tựa “Do Stock Prices Move Too Much to be Justified by Subsequent Changes in Dividends?” Ông ấy đã tranh luận rằng giá cổ phiếu thì rất biến động. Đặc biệt, chúng biên động còn mạnh hơn những định giá hợp lý về cơ bản.

Nghiên cứu của Mr. Shiller đã tạo ra một cơn bão tranh luận. Bài đọc của tôi về những kết luận của bài giảng (mặc dù không phải tất cả kỹ thuật của ông ấy đều sống sót qua đợt tranh luận), giá cổ phiếu dường như có một cuộc đời riêng của chúng.

Nhiều người hiện nay cho rằng giá cổ phiếu biến động theo sự thay đổi của phần bù rủi ro, nhưng không ai giải thích được tại sao phần bù rủi ro lại biến động như thế. Một số khác cho rằng thị trường thay đổi theo những con sóng vô định của sự lạc quan và bi quan, điều đó được Hohn Maynard Keynes gọi là “animal spirits” của nhà đầu tư. Cả 2 cách tiếp cận này thật chất cho thấy sự khó khăn để trả lời câu hỏi biến động của thị trường mà các nhà kinh tế đối diện.

NẮM GIỮ CỔ PHIẾU LÀ MỘT CÁ CƯỢC HIỆU QUẢ Phần lớn, việc không thể lý giải biến động giá cổ phiếu đã ngăn nhà đầu tư mua cổ phiếu ngay từ đầu. Nhiều người Mỹ, thập chí né tránh cổ phiếu hoàn toàn. Nhưng làm vậy là sai lầm, bởi vì rủi ro của việc nắm giữ cổ phiếu lại là món quà tuyệt vời.

Năm 1985, Rajinish Mehra và Edward C.Prescott, đã công bố nghiên cứu trên Journal of Monetary Economics với tựa “The Equity Primium: A Puzzle”. Họ đã liệt kê ra trung bình việc nắm giữ cổ phiếu lâu dài có suất sinh lời cao hơn 6% nắm giữ tài sản an toàn khác như Trái phiếu chính phủ. Với phần bù lớn vậy, họ cho rằng, khó để giải thích bằng những mô hình kinh tế chuẩn tắc. Chắc chắn, cổ phiếu rủi ro hơn, vì vậy bạn phải được bù đắp.

Kể từ nghiên cứu đó được xuất bản, những nhà kinh tế học đã bắt đầu có những tiếp cận nào đó trong lý giải về phần bù rủi ro. Trong bất kỳ sự kiện nào, phần bù lớn đã thuyết phục hầu hết chúng ta rằng cổ phiếu nên chiếm 1 phần trong kế hoạch tài chính của mọi người. Với tôi, 60% tài sản tài chính là cổ phiếu.

Cổ phiếu có thể là một thương vụ tốt hôm nay. Theo nghiên cứu gần đây của 2 nhà kinh tế học tại Federal Reserve Bank of New York, cho thấy lãi suất thấp, phần bù vốn cổ phần hiện cao nhất trong 50 năm.

ĐA DẠNG HÓA LÀ RẤT CẦN THIẾT Một công ty kinh nghiệm rồi cũng phải suy giảm – xem trường hợp của Enron hay Lehman Brothers – báo cáo về những nhân viên những người nắm giữ hầu hết tài sản trong cổ phiếu của công ty. Những câu chuyện này để lại những ấn tượng không tốt trong đầu của nhà kinh tế học. Nếu có một thứ gì đó chúng ta biết chắc, đó là quản lý tài chính yêu cầu phải đa dạng hóa.

Vì vậy, nếu bạn có hơn 5% tài sản vào bất kỳ công ty nào, hãy gọi cho môi giới và bảo họ bán bớt đi.

NHÀ ĐẦU TƯ THÔNG MINH SUY NGHĨ MỘT CÁCH TOÀN DIỆN (TOÀN CẦU) Thất bại phổ biến của đa dạng hóa là những gì được giới kinh tế gọi là “home bias”. Người ta có xu hướng đầu tư không cân xưng vào chính quốc gia của họ.

Hầu hết các nhà kinh học có cái nhìn toàn cầu hơn. Nước Mỹ chiếm ít hơn 1 chút danh mục cổ phiếu toàn cầu. Bởi vì, Châu Âu, Nhật Bản và nước đang phát triển không bước đi cùng nhịp với Mỹ, điều đó cũng cho thấy đầu tư ra bên ngoài khá là thú vị.

Quay lại câu chuyện về câu hỏi của mẹ tôi: Nếu tôi có thể chọn cổ phiếu cho ai đó mua, đó sẽ là gì? Tôi sẽ đề nghị một thứ gì đó kiểu như trade fund. Đây là gói đầu tư mà bạn chỉ chịu chi phí thấp mà lại đa dạng hóa tôi đa. Điều đó có thể không thú vị bằng việc cố tìm ra những Apple, Google, nhưng bạn sẽ ngủ yên giấc.

N. Gregory Mankiw is a professor of economics at Harvard.

By N. Gregory Mankiw

Published 18/05/2013

Nguồn: finandlife dịch

Tags:

Economics | Psychology

Tin đồn và sự khác biệt giữa Mỹ với Việt Nam

by Admin25/04/2013 10:12

Đọc bài 220 tỷ USD bốc hơi vì tin Nhà Trắng bị tấn công và B.Obama bị thương mới thấy thị trường chứng khoán thật rất nhạy cảm, qua đó cũng thấy được sự khác biệt trong hành xử của nhà đầu tư Mỹ và Việt Nam.

Điều dễ nhận ra là hiệu quả trong xử lý tin đồn của Mỹ là rất tốt. Nhà đầu tư tham gia thị trường chứng khoán ngay lập tức mua lại cổ phiếu khi nguồn tin chính thức được xác nhận đó là tin đồn thất thiệt. Điều này không xảy ra ở Việt Nam. Trong năm 2012, hàng loạt tin đồn liên quan đến bắt bớ các vị to trong hệ thống ngân hàng làm thị trường mất điểm nghiêm trọng, thế nhưng ngay khi tin đồn được xác nhận lại là không tồn tại, thị trường vẫn tiếp tục hoãn loạn và giảm điểm. Như vậy vấn đề nằm ở đâu? Có lẽ tất cả điều từ lòng tin mà ra, nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán VN đã rất nhiều lần bị lừa theo kiểu “tin đồn àđính chính à tin thật”, vậy thì hành động của họ là tiếp tục bán ra, tiếp tục hoãn loạn cũng là điều rất dễ hiểu, tất cả chỉ muốn bảo toàn tài sản của mình mà thôi.

Qua cách hành xử của nhà đầu tư trên thị trường Mỹ và VN, điểm chung ở đây là khi xảy ra tin đồn, sự hoãn loạn sẽ xuất hiện trên thị trường chứng khoán, điểm khác nhau là ở Mỹ nhà đầu tư nhanh chóng mua lại cổ phiếu nếu tin đồn đó được xác nhận là thất thiệt, còn ở VN dù được xác nhận thất thiệt đi chăng nữa, nhà đầu tư vẫn giữ sự hoài nghi, và tiếp tục bán ra cổ phiếu.

Các bạn xem thêm biểu đồ sau để thấy rõ điều này.

Nguồn: finandlife

Tags:

Psychology

Tâm lý chốt lãi và thực tế thua lỗ

by Life18/04/2013 13:13

 

Rất nhiều nghiên cứu thực nghiệm cho thấy ở cả những thị trường phát triển và đang phát triển, tâm lý và hành vi vẫn chi phối giao dịch hàng ngày của thị trường. Một trong những diễn biến tâm lý khá phổ biến và chính hành động bất hợp lý này làm ảnh hưởng đến kết quả giao dịch đó là xu hướng nắm giữ cổ phiếu lỗ quá lâu và bán ra cổ phiếu lời quá sớm.

Nhiều học giả lý giải cho động thái kỳ lạ này là vì nhu cầu tự thể hiện, nhu cầu được mọi người tưởng thưởng. Trong đó, việc bán ra cổ phiếu lời sớm nhằm chứng tỏ quyết định đầu tư chính xác của mình, điều đó giúp nhà đầu tư thỏa mãn  nhu cầu thể hiện sự giỏi giang; còn việc bán đi cổ phiếu lỗ là thừa nhận thất bại, thừa nhận sai lầm của mình và chính điều này làm nhà đầu tư trì hoãn hoặc ngần ngại đưa ra quyết định. Điều này rất phổ biến trong thực tế, hầu như nhà đầu tư nào tham gia thị trường cũng đều nhớ và kể lại rất rành mạch về những chiến tích, về những cổ phiếu tăng giá vài lần, mà khó tìm thấy những nhà đầu tư tự thú về những thua lỗ.

Giới học giả phương Tây gọi sự bất hợp lý trong giao dịch này là hiệu ứng ngược vị thế (Disposition Effect). Trong một nghiên cứu tiêu biểu ở Mỹ cho thấy, nhà đầu tư ở thị trường này có tỷ lệ hiện thực hóa các khoản đầu tư có lãi lên đến 33.7%, trong khi đó, tỷ lệ hiện thực hóa các khoản đầu tư thua lỗ chỉ là 25.2%. Một nghiên cứu trên thị trường Trung Quốc cũng cho thấy tỷ lệ hiện thực hóa khoản đầu tư có lãi lên đến 51.9%, trong khi đó, tỷ lệ hiện thực hóa các khoản đầu tư thua lỗ chỉ là 31%. Điều này có nghĩa là, nhà đầu tư trên thị trường Mỹ và Trung Quốc rất hứng thú chốt lãi, nhưng lại dè dặt trong cắt lỗ. Trong một nghiên cứu của tác giả cuối 2012, những biểu hiện tương tự cũng tồn tại ở thị trường chứng khoán Việt Nam, có đến 80% nhà đầu tư rơi vào hiệu ứng ngược vị thế, tức thích hiện thực hóa khoản lời hơn khoản lỗ, mức độ sẵn lòng bán cổ phiếu lời là 33.7%, trong khi đó, mức độ sẵn lòng bán cổ phiếu lỗ chỉ là 25.2%.

Kết quả nghiên cứu tại Việt Nam cũng cho thấy, những nhà đầu tư có giá trị giao dịch lớn và những tài khoản của nam giới ít chịu ảnh hưởng của xu hướng thích hiện thực hóa khoản đầu tư có lãi hơn so với khoản đầu tư thua lỗ. Như vậy, những nhà đầu tư có giá trị giao dịch thấp, những nhà đầu tư nữ bị ảnh hưởng của hiệu ứng ngược vị thế mạnh nhất. Theo suy luận của tác giả, những nhà đầu tư có giá trị giao dịch lớn là những nhà đầu tư chuyên nghiệp, xem hoạt động đầu tư là một kênh mang về thu nhập thực thụ, do vậy ở họ có những nghiên cứu kỹ lưỡng cách thức giao dịch, đòi hỏi kỹ năng giao dịch cao cấp giúp hạn chế hành động bất hợp lý. Trong khi đó, những nhà đầu tư có giá trị giao dịch thấp lại thiếu đi những điều này. Về giới tính, giáo sư Odean có lần nói rằng « đầu tư là công việc của nam giới ». Có lẽ chính việc xác định vị thế công việc thuộc về phái mạnh mà ở họ có sự đầu tư nhiều hơn về kiến thức và trải nghiệm. Do đó, nam giới có thể kiểm soát tốt hơn những giao dịch bất hợp lý so với nữ.

Trong nghiên cứu ở Mỹ, những cổ phiếu được chốt lãi sớm tiếp tục tăng giá 2.35% trong năm tiếp theo, trong khi đó, những cổ phiếu lỗ mà nhà đầu tư ngại bán ra lại tiếp tục giảm giá 1.06%. Như vậy hành động bất hợp lý đã làm nhà đầu tư đánh mất 3.41% tỷ suất sinh lợi trong một năm. Do vậy, việc nhìn nhận lại động thái giao dịch của chính mình có thể giúp nhà đầu tư cải thiện thành quả trong tương lai.

Thay cho lời kết, tác giả xin lược trích những nguyên tắc trong giao dịch mà Alexander Elder khuyên nhà đầu tư. Nếu bạn cảm thấy mình giao dịch nhiều nhưng kết quả vẫn nghèo nàn thì hãy ngưng giao dịch một thời gian và đánh giá lại những giao dịch đã qua của mình ; hãy lập kế hoạch trước và không nên ra quyết định mua bán trong giờ giao dịch ; hãy đặt mục tiêu sống sót sau một khoản thời gian dài, sau đó mới là sự tăng trưởng vững chắc của vốn đầu tư và cuối cùng là tạo ra lợi nhuận cao. Và cảnh giới cao nhất là “nhà giao dịch chứng khoán phải rèn luyện để đạt đến trình độ, chiến thắng không cảm thấy quá hưng phấn, thua lỗ không cảm thấy suy sụp”.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Alexander Elder, sách Trading For A Living.

[2] Chen, Gong-Meng, Kenneth A. Kim, John R. Nofsinger, and Oliver M. Rui, 2004, Behavior and performance of emerging market investors: Evidence from China, working paper.

[3] Terrance Odean, 1998, “Are Investors Reluctant to Realize Their Losses?”, Journal of Finance, 53 (5), 1775-1798.

Nguồn: finandlife|một version khác trên Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn  

Tags:

Psychology

AUTOFEED

DISCLAIMER

Blog này phục vụ cho mục đích lưu trữ, tham khảo thông tin và thảo luận. Chúng tôi không đảm bảo tính chắc chắn và không chịu trách nhiệm khi người sử dụng thông tin từ website cho hoạt động đầu tư, mua bán chứng khoán của mình.

Designed by: Nguyễn Chí Hiếu