VEPR|Viễn cảnh kinh tế 2014 “những ràng buộc đối với tăng trưởng”

by finandlife01/06/2014 09:20

Bên cạnh những giải pháp ngay lập tức như điều chỉnh tỷ giá; xúc tiến đối tác chiến lược như Nhật, Hàn, Asian, hạn chế Trung Quốc… vẫn còn nhiều chuyện phải làm mang tính chiến lược như cải thiện năng suất lao động, tạo cơ chế khuyến khích sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp.

Dự báo tăng trưởng kinh tế năm 2014 sau những căng thẳng trên biển đông chỉ còn 4.88%, thấp hơn mục tiêu 5.8%.

-------------------------

Bên cạnh những chính sách trong trung hạn mang tính tổng hợp các quan điểm chính sách được đề xuất trong các chương chuyên đề của Báo cáo, Chương 7 cung cấp hai kịch bản dự báo về viễn cảnh kinh tế vĩ mô của Việt Nam trong năm 2014 và một số thảo luận chi tiết về các chính sách ngắn hạn đang được áp dụng hiện nay. Cũng tương tự như năm 2013, năm 2014 tiếp tục có thêm dự địa chính sách nhờ lạm phát tương đối thấp, nhưng các vấn đề của nền kinh tế thực vẫn là điều đáng lo ngại nhất. Doanh nghiệp tiếp tục suy yếu, các giải pháp chính sách không đủ mạnh và môi trường truyền dẫn chính sách kém hiệu quả, làm biến dạng mục tiêu mong muốn, đều là những nhân tố cản trở sự phục hồi kinh tế. Đặc biệt trong năm 2014 xuất hiện mâu thuẫn giữa Việt Nam và Trung Quốc trên biển Đông, đe dọa quan hệ hợp tác kinh tế giữa hai nước. Việt Nam phụ thuộc nhiều vào nền kinh tế Trung Quốc với tư cách nước nhập khẩu ròng về nguyên vật liệu, thiết bị xây dưng, máy móc và dịch vụ xây dựng nhiều công trình năng lượng và hạ tầng, đồng thời là nhà xuất khẩu ròng nhiều mặt hàng nông nghiệp quan trọng như cao su, gạo, hoa quả… nên quan hệ xấu đi giữa hai nước sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế Việt Nam. Hai kịch bản dự báo được xây dựng cho thấy tăng trưởng của năm 2014 có nhiều khả năng sụt giảm so với năm 2013 thì chịu ảnh hưởng trong mối quan hệ kinh tế-chính trị với Trung Quốc. Kịch bản thấp dự báo mức tăng trưởng GDP đạt khoảng 4,15%, trong khi kịch bản cao hơn cũng chỉ đạt mức là 4,88% (theo giá cố định năm 2010). Lạm phát của cả năm 2014 được dự báo tiếp tục hạ thấp hơn so với năm trước, tương đối ổn định, trong vùng dự kiến từ 4,76% đến 5,51%.

Một loạt vấn đề ngắn và trung hạn được đặt ra cho Việt Nam, bao gồm lựa chọn ưu tiên giữa chính sách giữa phục hồi tăng trưởng, hồi sinh doanh nghiệp và chính sách tiền tệ thích hợp, kiểm soát ổn định vĩ mô. Trong đó ổn định vĩ mô vẫn là tiền đề vững chắc cho các chính sách căn bản khác.

Do kỳ vọng lạm phát có thể thấp dưới 6%, cùng với sự dư thừa thanh khoản trong ngân hàng, nên sức ép hạ lãi suất huy động vẫn còn mạnh, nhưng cần chú ý để không gây xáo trộn trên thị trường vốn nếu lãi suất huy động thực tiến sang trạng thái âm. Đối với thị trường bất động sản, không nên kéo dài thời gian điều chỉnh bằng những gói hỗ trợ hoặc các giải pháp trên giấy, tạo kỳ vọng sai lạc về thị trường này. Cách tốt nhất là để thị trường tiếp tục tự điều chỉnh (xuống giá).

Định hướng của chính sách tỷ giá, không chỉ là điều chỉnh ngắn hạn trong nửa cuối năm (tăng khoảng 2-3%) mà là một tầm nhìn ổn định trong tương lai nhằm tác động tích cực đến sản xuất trong nước. Sau giai đoạn căng thẳng trên biển với Trung Quốc, nên có sự điều chỉnh tỷ giá vì điều kiện vĩ mô thuận lợi như hiện nay không có nhiều. Trên phương diện giải quyết nợ xấu, cần tiến thêm một bước cụ thể là tạo dựng thị trường mua bán nợ và cơ chế khơi thông nguồn lực mua nợ từ nhà đầu tư trong nước và quốc tế; Về cải cách doanh nghiệp nhà nước, cần duy trì tiến trình cổ phần hóa DNNN như Thông điệp đầu năm của Thủ tướng để vừa cải thiện ngân sách, vừa thực hiện tái cơ cấu nền kinh tế; Bên cạnh những thuận lợi từ xuất khẩu, giới hoạch định chính sách cần xác định những nguy cơ về quỹ đạo phát triển khi Việt Nam hội nhập sâu hơn vào các liên kết quốc tế có mức độ tư do cao (ACFTA, TPP, các FTAs khác). Trong đó, cải cách thể chế và nâng cao chất lượng môi trường kinh doanh là chìa khóa để hội nhập thành công.

Trước sự bành trướng rất nhanh của chi thường xuyên trong tổng chi ngân sách, Việt Nam cần có một lộ trình tinh giản biên chế cả ở cấp trung ương và địa phương nhằm kiểm soát quy mô của khoản chi này; Trong giai đoạn đứng trước thử thách khó khăn với Trung Quốc, Việt Nam càng cần thực hiện quyết tâm thay đổi mô hình kinh tế, con đường phát triển và thay đổi tư duy điều hành nền kinh tế. Giai đoạn kinh tế suy giảm vừa qua cho thấy nhiều bài học lớn, cùng với những tranh chấp với Trung Quốc hiện nay, nhu cầu cải cách, giảm phụ thuộc càng rõ ràng hơn.

Song song với quá trình này, cần xác định các đối tác kinh tế và chiến lược như Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc, Ấn Độ và ASEAN để xây dựng cơ sở hợp tác dài hạn, giảm phụ thuộc vào Trung Quốc. Cần thúc đẩy tăng năng suất của nền kinh tế trong trung và dài hạn thông qua quyết tâm cải cách thể chế theo hướng thị trường để tạo động lực phân bổ nguồn lực hữu hiệu hơn; Chủ động định hướng thị trường lao động tái cơ cấu theo hướng nâng cao chất lượng, khuyến khích lao động kỹ năng cao.

Chúng ta cũng cần chú trọng phân bổ nguồn lực, tạo dựng cơ chế khơi thông đầu tư sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp. Đặc biệt với kinh tế biển, cần hỗ trợ trực tiếp (sửa chữa, nguyên liệu) để người dân bám biển. Bổ sung các tàu lớn của quốc gia để hỗ trợ về hậu cần cho các đội tàu cá.

------------------------------------------

Báo cáo thường niên Kinh tế Việt Nam 2014: Cần căn cứ thực tế hơn là lý thuyết!

02/06/2014

(Thời báo Kinh Doanh) - Báo cáo thường niên Kinh tế Việt Nam 2014, vừa được Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) công bố, nhận được nhiều phản biện từ các chuyên gia kinh tế: "Các nhà nghiên cứu cần gia tăng nhiệt huyết hơn. Đất nước đang cần độ "nóng". Trong khi đó, các nhà học thuật vẫn ngồi, thỉnh thoảng phẩy quạt lông đưa ra một vài câu chuẩn mực về nguyên lý là không ổn".

Liên tục những năm gần đây, tăng trưởng sụt giảm mạnh. Đã có rất nhiều nghiên cứu, phân tích nguyên nhân được đưa ra. Nhưng tại Báo cáo 2014, VEPR đã chỉ những ràng buộc đối với tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Trong đó, những cản trở cho đầu tư dài hạn là bất ổn kinh tế vĩ mô, sự xói mòn niềm tin của các chủ thể kinh tế vào tương lai và định hướng điều hành.

Hai kịch bản chưa thuyết phục

Theo Ts. Nguyễn Đức Thành, Giám đốc VEPR, mặc dù nền kinh tế đã có sự phục hồi nhưng vẫn rất mong manh, khả năng chống đỡ với các cú sốc khá yếu. Vì thế, trong Báo cáo kinh tế thường niên 2014 của VEPR đã đưa ra 2 kịch bản: Kịch bản thấp, dự báo tăng trưởng GDP đạt khoảng 4,15% và kịch bản cao là 4,88%. Lạm phát được dự báo sẽ thấp hơn năm 2013 và ở trong vùng dự kiến từ 4,76% đến 5,51%.

Những cản trở của tăng trưởng là môi trường kinh doanh thấp, quyền sở hữu trí tuệ bị xâm phạm và tình trạng tham nhũng. Những cản trở dài hạn là hạ tầng, cả hạ tầng giao thông và hạ tầng năng lượng. Hiệu quả kém của các trung gian tài chính và đầu tư công quá mức sẽ trở thành ràng buộc chặt nếu nền kinh tế quay trở lại quỹ đạo tăng trưởng cao hơn.

Bên cạnh đó là những ràng buộc khác như thừa lao động nhưng thiếu hụt nguồn nhân lực có đào tạo, có kỹ năng; khả năng đổi mới sáng tạo của nền kinh tế hầu như không có; thiếu môi trường khuyến khích tự do nghiên cứu và chấp nhận rủi ro…; thể chế kinh tế thị trường chưa hoàn thiện và thủ tục hành chính chưa hỗ trợ cho DN và tinh thần khởi nghiệp. Những ràng buộc nội bộ này cũng là rào cản tiềm tàng trong quá trình hội nhập của Việt Nam.

Những nhận định đưa ra trong Báo cáo của VEPR về "sức khỏe" nền kinh tế Việt Nam, Ts. Vũ Viết Ngoạn, Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia, cho rằng đánh giá 2 kịch bản về tăng trưởng (tăng GDP năm 2014 mức thấp là 4,15%, cao là 4,88%) mà Báo cáo nêu chưa thuyết phục. Bởi vì Báo cáo không dẫn ra được các căn cứ cụ thể để chứng minh. "Tôi không bi quan về tăng trưởng như nhóm tác giả đã nêu trong báo cáo", Ts. Ngoạn nhấn mạnh.

Ts. Ngoạn đặc biệt lưu ý, báo cáo này có đánh giá nền kinh tế đang phục hồi, nhưng chưa chỉ ra được yếu tố nào tạo nên sự phục hồi đó do sự đúng đắn của chính sách hay do yếu tố ngoại sinh tác động vào nền kinh tế. Nhìn chung, đến thời điểm gần hết tháng 5, báo cáo này mới xuất hiện và đưa ra những gợi ý chính sách cho năm 2014 là quá chậm".

Còn theo chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh, cần có những phân tích, đánh giá rõ nét hơn về khả năng ứng phó của nền kinh tế với các cú sốc để có những kịch bản hành động phù hợp nhằm giảm thiểu rủi ro nếu có những cú sốc xảy ra.

Thực tế có rất nhiều mô hình làm kinh tế rất hiệu quả

Ví dụ, tình trạng DN phá sản đang nghiêm trọng hơn. Nếu năm 2009 - 2010, DN phá sản là những DN làm ăn chụp giật thì 2 năm gần đây, trong số DN phải phá sản, ngừng hoạt động là những DN đã gồng mình chống đỡ suốt thời gian qua.

Hơn nữa, bên cạnh số DN ngừng hoạt động hay phá sản còn là những DN đã không thể cầm cự tiếp, phải chấp nhận bán và sáp nhập. Theo ông Doanh, cần tìm hiểu kỹ vấn đề này và ông cũng đặt câu hỏi: như vậy, bao nhiêu DN có tiềm năng của Việt Nam đã không tự sống được và đã rơi vào tay NĐT nước ngoài?

Cần có cách tiếp cận khác

Đánh giá và chất lượng báo cáo lần này của VEPR, Gs. Nguyễn Mại, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp vốn đầu tư nước ngoài, thẳng thắn: Các số liệu trong Báo cáo vẫn rơi vào tình trạng không có cái mới, những kiến nghị đưa ra vẫn chung chung. Báo cáo cần đề cập đến những chủ trương Nhà nước đã làm thì cái nào đúng, cái nào chưa đúng; những việc đặt ra thì đã triển khai vào thực tế được như thế nào, chẳng hạn về xử lý nợ xấu, tái cơ cấu kinh tế...

"Các nghiên cứu kinh tế vĩ mô như thế này, cần có cách tiếp cận khác. Đó phải là tiếp cận đi từ thực tế thay vì cứ xuất phát từ lý thuyết. Bởi thực tế có rất nhiều mô hình làm kinh tế rất hiệu quả. Rất cần có nghiên cứu áp dụng vào nền kinh tế để thoát khỏi khó khăn", ông Mại kiến nghị.

Ts. Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam cũng cho rằng những liệt kê về ràng buộc đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam như VEPR đưa ra chưa ổn. Đó không chỉ đơn thuần là những chi tiết xếp cạnh nhau trong nền kinh tế. Các ràng buộc này đã thành một hệ thống, giờ muốn đục chỗ nào để thoát ra cũng khó. Vì sao chúng ta cố đột phá mãi mà không được.

Ông Thiên phân tích: Đơn cử, nhìn vào chỉ số lạc quan của sản xuất công nghiệp là thấy cần phải tính lại cho kỹ. Bởi vì, báo cáo gần đây nhất của Bộ KH&ĐT, DN đóng cửa 5 tháng qua cao hơn so với cùng kỳ năm ngoái tới 20%, trong khi đó, chỉ số công nghiệp vẫn tốt lên. Đây là vấn đề cực kỳ nghiêm trọng, cần nhìn nhận rõ ràng, sự tốt lên thực chất là của DN nào. Nếu nhìn vào điều này, phân tích kỹ ra, sẽ thấy có thêm ràng buộc.

Không nên nhìn chỉ số chung trong các báo cáo tốt lên mà bỏ qua những yếu tố thành phần đang có vấn đề. Ngay như sản xuất công nghiệp tốt lên thật, nhưng không phải nhờ ở DN nội mà do khối DN FDI. Xuất khẩu cũng vậy. Trong khi DN nội suy yếu mạnh thì FDI đang lớn lên và lớn theo cách không bình thường. Vậy, liệu có quyết liệt đổi mới để tháo gỡ được không. Tính khốc liệt của vấn đề là ở chỗ đó.

"Nếu cứ theo các báo cáo, lấy các chỉ số chung tốt lên sẽ dễ bị che đi sự thực trong cơ cấu kinh tế. Đây là vấn đề cực kỳ nguy hiểm, cần phải nhìn nhận nghiêm túc để tránh ảo tưởng khi đọc báo cáo", ông Thiên nói.

-------------------------------------------

Rạch ròi việc dự báo

Ts. Võ Trí Thành, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương

------------------------------------

Cần rạch ròi việc dự báo. Một mặt khẳng định sự phục hồi kinh tế từ giữa năm 2013 có vẻ mong manh nhưng mặt khác, dự báo lại cho kết quả, tăng trưởng vẫn tiếp tục thụt lùi. Vậy thì đà phục hồi ở đây là như thế nào? Ngay cả mức dự báo 5,5% của các tổ chức quốc tế cũng là một mức tăng trưởng yếu ớt. Trước ta chưa có cú sốc ở bên ngoài. Giờ, nếu có cú sốc từ bên ngoài thì sẽ tác động bao nhiêu phần trăm đến nền kinh tế Việt Nam. Đây là điều cần phải được tính toán, nghiên cứu sâu hơn trong báo cáo kinh tế.

Sức chịu đựng của nền kinh tế đến đâu

Ts. Vũ Viết Ngoạn, Chủ tịch Uỷ ban giám sát tài chính quốc gia

------------------------------------

Câu hỏi mở ra trong đầu tôi là đánh giá sức chịu đựng của nền kinh tế đến đâu.

Có hai câu hỏi đặt ra trong bối cảnh hiện nay, thứ nhất là mức tăng trưởng tối thiểu cần thiết cho Việt Nam để giải quyết công ăn việc làm là bao nhiêu? Thứ hai là trong 2-3 năm tới, liệu Việt Nam có vượt qua bẫy thu nhập trung bình hay không hay vẫn cứ tăng trưởng thấp như hiện nay.

Hiện nay, năng suất lao động thấp, chỉ 2% chưa đủ bù đắp cho cắt giảm đầu tư và suy giảm kinh tế. Năng lực cạnh tranh của nền kinh tế còn yếu, không bù đắp được sụt giảm vừa qua, dẫn đến thất nghiệp do không giải quyết được việc làm. Kèm theo đó, giảm tiêu dùng..., dẫn đến bất ổn xã hội, suy giảm niềm tin, càng dẫn đến tăng trưởng thấp.

Mong muốn chỉ ra những ràng buộc trong nhiều lĩnh vực

Ts. Nguyễn Đức Thành - Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR, Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội)

------------------------------------

Báo cáo thường niên năm nay mong muốn chỉ ra những ràng buộc trong nhiều lĩnh vực đối với tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Để tháo gỡ những ràng buộc này, đòi hỏi Việt Nam phải có quyết tâm mạnh mẽ trong việc tái cơ cấu nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, và trên hết, hình dung rõ ràng một mô hình kinh tế - xã hội tổng thể cho tương lai Việt Nam.

 

Việt Nguyễn|Thoibaokinhdoanh.vn

Nguồn: finandlife|Trích Báo Cáo Thường Niên 2014 “Những ràng buộc đối với tăng trưởng”

Tags: ,

Economics

AUTOFEED

DISCLAIMER

I am an Investment Manager at TOP 2 Securities Co., in Vietnam. I started working in investment field as a junior analyst at a Fund in 2007. I have more than 13 years of experience in investment analysis. I have a deep understanding of Vietnam macroeconomics, equity research, and seeking investment opportunities. Besides, I am a specialist in derivatives, ETF, and CW. This is my private Blog. I use this Blog to store information and share my personal views. I don't guarantee the certainty. And I am not responsible when the user uses the information from the Blog for trading/investing activities. If you have any questions, please feel free to contact me via email thuong.huynhngoc@gmail.com. 

Designed by: Nguyễn Chí Hiếu