Nước mắt rơi chung

by Life13/10/2013 09:26

Bạn rơm rớm nói, ông tặng cái chết của mình cho người dân như một cơn mưa phúc lành. Họ, cũng như bọn tôi, ẩn nỗi tiếc thương ông già rực rỡ đó, thấy tâm hồn mình bỗng dưng liền sẹo, bâng khuâng vì ý nghĩ mình cũng còn khả năng khóc cho một người dưng.

Bạn nói có thể chị đàn bà đứng nức nở trên phố Hoàng Diệu ấy vừa đóng quầy may sẵn ở chợ Đồng Xuân, bạn đã bị chị mắng một lần vì "nói giọng miền Nam mà còn mặc cả". Có thể người đàn ông mếu máo đặt mấy bông cúc vàng ở hàng rào ngôi nhà số 30 kia vừa chạy xong cuốc xe ôm, bạn đã từng bị anh chở đi đường vòng để lấy tiền cho ngọt. Nhưng những va quệt đã từng gặp phải trên đất Hà Nội đã trôi hết, xí xóa hết trong bạn vì những người đã đến khóc trước nhà vị tướng vừa qua đời, trong bản tin tối.

Ti vi trong quán ăn tiếng được tiếng mất, nhưng bọn tôi chừng như nghe được tiếng nước mắt chảy. Không chỉ từ những gương mặt lướt qua trên màn hình, mà còn từ những người không xuất hiện trên ti vi như bạn, hay từ trong lòng những người giả bộ mình cứng cỏi, như tôi. Tự nhận là già rồi, nghi ngờ cả nước mắt, nhưng bạn nói lần này bỗng tin những người kia cảm động thật lòng. Mà ông tướng đó cũng không phải ruột thịt, hay họ hàng xa, hay láng giềng ở cạnh nhà. Ông giỏi thì khỏi nói, cái đó cả thế giới chịu rồi, "nhưng tụi mình đâu phải thương chỉ mỗi chuyện đó", bạn quệt cùi tay chùi nước mắt, nói, "nghĩ tới ông như là nghĩ tới ông nội mình, không hề có cảm giác xa xôi vĩ đại". Bàn bên mấy anh đòi nợ mướn cũng thôi chửi thề một con nợ khó nhằn, một anh buột miệng "nhìn ổng hiền như con cọp ăn chay". Màn hình đông chừng mười lăm giây nụ cười hồn hậu của ông tướng. Tự biết trong lòng người dân, hình ảnh ấy còn đọng lại rất lâu.

Bạn tôi tin hồi tại thế ông sống như mình có, không cố ý sống sao cho dân phải khóc khi lìa cõi tục. Tự nhiên từ khí chất. Thấy ông tưới phong lan, cũng lui cui như ông già kế bên nhà. Thấy nụ cười, biết rằng những oan khuất nhục vinh đã bị ông phẩy tay bỏ lại. Chỉ dân là ông không quên, khi thỉnh thoảng gửi báo những bài viết tâm huyết đóng góp cho chính sách dân sinh.

Mấy hôm trước cà phê sáng với nhau bạn còn kêu xã hội nhìn đâu cũng rẽ chia xáo xác. Sẵn sàng cãi nhau vì một cuốn sách, ông xài điện thoại Mỹ tôi dùng điện thoại Hàn, vì em mê nhạc sến anh thích sang. Cảm giác loạn lạc từ chính trường cho tới từng mái ấm, từng cái tổ của mỗi người. Đi bên bờ vực ai không chịu được nấy rơi, tưởng không có gì ngăn lại được dòng người chèn lấn. Bỗng tất thảy họ dừng lại chỉ vì một hơi thở vừa dứt vô phương

nối lại. Bạn rơm rớm nói, ông tặng cái chết của mình cho người dân như một cơn mưa phúc lành. Họ, cũng như bọn tôi, ẩn nỗi tiếc thương ông già rực rỡ đó, thấy tâm hồn mình bỗng dưng liền sẹo, bâng khuâng vì ý nghĩ mình cũng còn khả năng khóc cho một người dưng.

Cách khóc mỗi người mỗi khác, có người tận nhà ông già cúi đầu đặt bó hoa, người ở xa ngồi trước ti vi lén kéo chéo áo lau đuôi mắt, người nuốt trộng vào lòng, người lại thở hắt ngậm ngùi "rồi ai cũng về, người ở đến gần một trăm lẻ ba năm chớ đâu ít ỏi gì, mà sao ai cũng tiếc. lại có người ở mới sáu mươi mà dân ngán ngẩm thôi rồi". Chỗ này chỗ kia, tiếng khóc chưa bao giờ tạnh của những người trót sinh ra trên đời này, nhưng không mấy khi cả triệu người cùng chung một niềm mất mát.

Bạn nói có bốn trong mười phần nước mắt đã chảy ra, chúng ta khóc cho việc sau này chẳng còn ai đủ lớn để dân còn có thể thương chung, khóc cùng. Cúi đầu trước ông, cũng đồng nghĩa bày tỏ thái độ với những ông quan còn đang sống.(truyenngan.com.vn)

Tags:

StoriesofLife

Những quốc gia mua Trái phiếu Chính phủ Mỹ nhiều nhất thế giới

by finandlife11/10/2013 14:06

Mỹ là con nợ của Cả thế giới này. Ai cũng muốn con nợ của mình làm ăn ổn định và tiếp tục phát triển đúng không ạ? Điều này một phần có ý nghĩa “Mỹ là con cưng của cả thế giới”. Chính vì vậy mà Trung Quốc (quốc gia sở hữu trái phiếu ngân khố Mỹ lớn nhất thế giới, lên đến 1.28 ngàn tỷ USD) lo ngay ngáy vụ chính phủ Mỹ đóng cửa (shut down) hiện nay.

 

Nguồn: finandlife|Marc To Market

Tags:

Economics

Lợi thế thương hiệu

by finandlife07/10/2013 11:35

Đây là một bài viết khá giá trị cho những chuyên viên phân tích tài chính của GS Damodaran. Tôi lượt dịch bài viết này để phục vụ cho các bạn làm tài chính.

 

Gân đây, một bảng xếp hạng thương hiệu toàn cầu đã được phát hành. Đây là một tin tức khá nổi bậc và được nhiều người tham khảo. Theo đó, những thương hiệu từ những công ty công nghệ như APPLE và GOOGLE… đã thay thế vị thế dẫn đầu của Coca Cola trong vài năm gần đây. Các bạn có thể xem danh sách 10 thương hiệu hàng đầu năm 2012 và 2013 dưới đây.

Theo tính toán của tổ chức công bố xếp hạng, giá trị thương hiệu của APPLE là 98.3 tỷ USD và Coca Cola là 79.2 tỷ đô.

Tại sao định giá thương hiệu có ý nghĩa quan trọng?

Ngay cả bạn là nhà đầu tư hay nhà tài chính doanh nghiệp, thì có lúc bạn cũng phải trả lời những câu hỏi như thương hiệu có ảnh hưởng thế nào trong tìm kiếm lợi nhuận và đóng góp bao nhiêu vào giá trị doanh nghiệp? Dưới đây là một số gợi ý:

1.    Danh số của thương hiệu: nếu một công ty đang xem xét bán đi thương hiệu của chính nó, trong lúc vẫn giữ lại những tài sản hữu hình, bạn phải có khả năng định giá được thương hiệu độc lập so với toàn bộ doanh nghiệp.

2.    Những tranh chấp pháp lý (legal disputes) về thương hiệu: Thương hiệu trở thành một chủ đề của những tranh chấp pháp lý, với đòi hỏi của các bên được chia phần lớn giá trị. Nếu không biết cách định giá thương hiệu và không biết những nhân tố dẫn dắt nó thì bạn không thể chia phần cho các bên tranh chấp.

3.    Tính toán giá trị hợp lý: Sự thay đổi trong kế toán đối với giá trị hợp lý từ giá trị sổ sách ban đầu đã mở cánh cửa để những kế toán viên cố gắng ước lượng giá trị tài sản vô hình (intangibles) chẳng hạn thương hiệu, giá trị nhận biết và danh sách khách hàng. (Tôi không nghĩ đây là ý kiến hay và đã nói thế trong diễn đàn này).

Từ góc độ marketing (marketing perspective), nơi mà thương hiệu đã chiếm dữ lịch sử với một vị trí trung tâm, bạn cần phải hiểu điều gì dẫn dắt thương hiệu và cách định giá nó trong những tình huống sau:

1.    Chi phí quảng cáo và định giá: nếu một trong những vai trò của quảng cáo là đang xây dựng nên thương hiệu, thông hiểu thương hiệu giá trị bao nhiêu là chìa khóa cho cả việc bạn sẽ bỏ ra bao nhiêu cho quảng cáo và cách bạn chi tiêu cho quảng cáo. Nó cũng là một thành tố cực kỳ quan trọng trong đánh giá (assessing) hiệu quả của quảng cáo mang lại một giá trị thương hiệu cao hơn.

2.    Định giá và những quyết định sản phẩm (product decisions): những sản phẩm mà bạn chào và giá của chúng bao nhiêu sẽ ảnh hưởng giá trị thương hiệu của bạn. Vì vậy, nếu bạn là một thương hiệu ưu tú, bạn có thể không chọn giới thiệu sản phẩm với mức giá thấp hơn mà không sợ nó sẽ tổn thương thương hiệu của bạn và đó chính là giá trị của bạn.

Sức mạnh của một thương hiệu

Trong khi có một số người gộp chung tất cả lợi thế cạnh tranh được sở hữu (possessed) bởi một công ty vào khoảng mục “thương hiệu”, thì tôi nghĩ tốt hơn hết chúng ta nên tách riêng (isolating) thương hiệu với những lợi thế cạnh tranh khác. Với cách nghĩ này, tôi tin một số bạn sẽ không đồng tình (take issue with=to disagree with something).

Sức mạnh thương hiệu: sức mạnh để charge một mức giá cao hơn những đối thủ cạnh tranh cho một sản phẩm hoặc dịch vụ giống hệt nhau hoặc gần giống hệt nhau (identical).

Để cung cấp một minh họa (illustration) về sức mạnh thương hiệu thuần túy (pure brand nam power), tôi đã đi dạo một vòng qua các tiệm thuốc địa phương và đã tìm thấy hai lọ thuốc giảm đau sau (painkiller aisle):

Thuốc Aspirin có giá là 2.25 USD và phiên bản Bayer có giá đến 6 USD. Aspirin, tất nhiên là thế, đã hết hợp đồng phát minh sáng chế (patent) cả thập kỷ và những thành phần trong Bayer Aspirin và Aspirin thông dụng kia là hoàn toàn giống nhau. Rõ ràng, mặc dù, có những khách hàng chấp nhận trả nhiều tiền hơn cho Bayer Aspirin, bất kể (notwithstanding) sự thật đó. Thật tế, bạn có thể tìm rất nhiều ví dụ về cái giá của thương hiệu so với không thương hiệu ở những cửa hàng bách hóa và dược phẩm.

Vì vậy, điều gì lý giải sức mạnh định giá của thương hiệu? Dễ dàng nhật thấy đó là sự bất hợp lý của người tiêu dùng, nhưng tôi sẽ không dám phán thế, bởi vì tôi chắc rằng chúng ta hầu như mắc cái lỗi bất hợp lý này, nếu không với Aspirin, thì cũng với những sản phẩm khác. Sức mạnh thương hiệu là một lời chứng thực (testimonial) lý giải cách chúng ta lựa chọn như những khách hàng về những sản phẩm không chỉ bởi vì đặc tính của sản phẩm và giá cả, mà còn bởi một loạt (array) nhân tố hành vi. Bí mật tạo ra giá trị thương hiệu vẫn được bao phủ trong bí ẩn. Nếu chỉ bỏ tiền cho quảng cáo, những khoản chi tiêu quảng cáo lớn có thể ưu thế (dominate) trong danh sách thương hiệu này nhưng có nhiều người không khoe khoang. Ngược lại (conversely), có những công ty mà dường như giá trị thương hiệu được xây dựng nhanh trong trong giai đoạn ngắn: Snapple 1990s, Lululemon và Under Armor vài năm trước. Giá trị thương hiệu như là một công thức của sự may mắn và ăn hên (serendipity) hơn là công thức được lênh kế hoạch và được thiết kế bài bản.

Giá trị của một thương hiệu

Nếu bạn chấp nhận định nghĩa sức mạnh thương hiệu của tôi, quá trình định giá nó sau đó trở nên đơn giản, ít nhất là về mặt nguyên lý (adstract). Nó sẽ yêu cầu bạn trả lời câu hỏi sau: Nếu bạn là một công ty có thương hiệu và bạn đánh mất thương hiệu của mình qua 1 đêm. Chuyện gì sẽ xảy ra với giá trị công ty?

So sánh vốn hóa thị trường của Coca Cola với vốn hóa thị trường một nhãn hiệu tương tự sẽ nói với bạn chút ít về giá trị thương hiệu. Trong khi so sánh những chỉ số định giá so sánh như PE, PB, hay EV/Sales giữa những công ty và những đối thủ cùng lĩnh vực khá hữu ích. Chỉ một con đường để định giá thương hiệu là sử dụng mô hình giá trị nội tại, xác nhận những nhân tố tác động đến giá trị và sau đó nhìn cái cách mà công ty thương hiệu và những đối thủ tương tự khác nhau thế nào đối với từng nhân tố đó.

Coca Cola. Mặc dầu nó đã rớt khỏi vị trí dẫn đầu trong năm nay, nhưng nó vẫn là một thương hiệu biểu tượng (iconic), được nhận biết bởi hầu hết mọi nơi trên thế giới. Để định giá thương hiệu của công ty, trước tiên tôi phải nhận diện sự khác nhau giữa những ma trận định giá then chốt giữa Coca Cola và đối thủ tương tự trong ngành của nó. Trong trường hợp này, tôi có thể tìm thấy một công ty sản xuất thức uống, Cott Inc., một công ty tọa lạc tại Canada, công ty sản xuất nước uống được phân phối bởi các cửa hàng bách hóa ở nước họ. Để minh họa cho những lợi thế rất lớn mà thương hiệu Coca Cola, tôi đã so sánh 2 công ty theo bảng bên dưới:

 

Coca Cola

Cott

Measures

After-tax operating margin

17.07%

4.08%

Pricing power

Sales/ Invested Capital

0.97

1.89

Revenue productivity

Return on capital

16.54%

7.73%

Investment success

Cost of capital

7.31%

8.51%

Cost of funding

Excess return

9.23%

-0.78%

Value added


Biên lãi hoạt động kinh doanh sau thuế của Coca Cola là 17.07% cao hơn 3.5 lần so với Cott; lợi nhuận trên vốn đầu tư của Coca Cola là 16.54% cao hơn 9.23% so với chi phí sử dụng vốn (7.31%), trong khi đó, lợi nhuận trên vốn của Cott là 7.73%, thấp hơn (lags) chi phí sử dụng vốn 0.78% (8,51%).

Vậy, có cách nào để đưa những số liệu này vào giá trị thương hiệu của Coca Cola?

Lựa chọn 1 (biên của Coke=biên của Cott): giả định rằng Coca Cola đánh mất thương hiệu của nó trong 1 đêm và do vậy biên hoạt động của Coke hội tụ với mức 4.08% của Cott. Sự sụt giảm đó trong biên hoạt động đã tạo ra một hiệu ứng lan tỏa (ripple effects), thu nhập trên vốn đầu tư và tốc độ tăng trưởng thấp hơn. Giữ nguyên doanh thu và chi phí vốn cố định, thì giá trị thương hiệu của Coca Cola là 149.5 tỷ USD.

 

Lựa chọn 2 (ROIC của Coke= với Cott): Một lý do mà lựa chọn thứ nhất có thể dự báo quá mức giá trị thương hiệu là vì Cott tỏ ra hiệu quả hơn trong chỉ số doanh thu trên vốn đầu tư (1.89 USD doanh số được tạo ra bởi 1 USD vốn đầu tư) trong khi đó, chỉ số này của Coca Cola chỉ là 0.97 USD. Đưa Coca Cola với cả biên lãi là 4.08% và doanh thu trên vốn đầu tư là 1.89 như của Cott thì khi đó lợi nhuận trên vốn đầu tư (ROIC) là 7.73% và giá trị thương hiệu là 120 tỷ USD.

Mở rộng cách tiếp cận cho những thương hiệu công ty khác, bạn có thể đối mặt với một trở ngại tiềm năng (potential hurdle): tìm kiếm công ty đối thủ tương đồng. Thậm chí trong trường hợp của Coca Cola, bạn có thể sử dụng Cott nhưng chưa chắc Cott đã phản ánh đúng biên lợi nhuận của cty tương đồng. Một giải pháp là xem xét phân phối của ma trận then chốt (ROIC, biên hoạt động, doanh thu trên vốn đầu tư) của ngành. Ví dụ, xem ngành giải khát toàn cầu sau:

Một số hàm ý:

1.    Thương hiệu là một trong những lợi thế cạnh tranh bền vững nhất của doanh nghiệp

2.    Thương hiệu không phải là lợi thế cạnh tranh duy nhất.

3.    Không xác định được lợi thế cạnh tranh có thể dẫn đến sự nguy hiểm

4.    Cảnh báo cho những nhà đầu tư: Nhà đầu tư đầu tư vào một công ty có thương hiệu phải theo dõi biên hoạt động của những công ty này, và ngay lập tức cảnh báo khi chỉ báo này sụt giảm.

Bài gốc ở đây!

Bài liên quan: Đọc giúp bạn|20 thương hiệu đắt giá nhất thế giới 

Nguồn: finandlife|Damodaran

Tags:

Economics

Wonderful Dream

by finandlife07/10/2013 09:59

07/10/2013

Tối hôm qua, tôi đã mơ một giấc mơ rất rất đẹp!

Trong giấc mơ, tôi thấy gia đình của tôi xây dựng một quán café tuyệt đẹp ngay bờ biển. Quán café được xây dựng dựa vào thế đất, ở trên cao là những bàn ghế đặt xinh xắn nhìn ra biển và khu vườn bên tay phải. Thế đất ở trên cao nên khi nhìn ngắm khu vườn, mọi người sẽ thấy những ngọn cây ở ngang tầm mắt. Khu vườn với vô vàn loài cây đặc sắc và đẹp đến lạ thường, tôi nhớ rất rõ 1 loài cây ấn tượng mà có lẽ chỉ trong mơ mới thấy loài cây này. Cây rất cao, dáng thanh, lá và trái được nhuộm đỏ bởi một màu bọc đô tuyệt dịu. Trái cây là những quả đào lộn hột, ở phần trên cuốn màu trắng tinh khôi và phần dưới là màu bọc đô tuyệt vời.

Tôi mơ thấy, bạn bè tôi cùng sử dụng ống nhóm để ngắm cảnh, qua ống nhòm họ có thể nhìn ngắm những tán lá, vóc dáng của những loại cây cực đẹp, họ chiêm ngưỡng nó, ngưỡng mộ nó.

Thế đất từ cao xuống thấp, nên những dòng suối chảy từ trên xuống dưới tạo ra những thác nước nhỏ, sương nước mơ màng và thần tiên.

Quán café còn rất đẹp vì không như thông thường, bờ biển ngăn cách với quán là một bãi cát trắng. Trong giấc mơ, quán café dường như không có sự ngăn cách nào với biển, biển như một bể bơi khổng lồ với bờ biển từ cạn đến sâu được xây dựng bởi một nền đá cẩm thạch hoàn hảo.

Thật sự là tuyệt vời….

Chưa hết, view trên cao dành cho những khách thích ngắm nhìn sự kỳ vĩ của tự nhiên, còn view dưới đất lại là một sự kết hợp mang đến cho người thưởng thức cảm giác gần gũi và thú vị bội phần. Những khối đá rất lớn xếp cạnh nhau như những hàng ghế lớn nhìn qua khu vườn, bên cạnh là biển trải dài. Đi vào một khu khác là những căn chòi lá dùng để tổ chức những bữa tiệc nhỏ cho các bạn trẻ như tiệc sinh nhật.

Trong giấc mơ, tôi thấy má tôi đang đốt đống lá cây để làm sạch môi trường, lửa mang theo khói và trong hương khói cay cay sống mũi, tôi đã nhớ về những ngày thơ trẻ đến cồn cào.

Cả gia đình tôi cùng lo cho việc kinh doanh của quán, với quy mô rất rất lớn, mọi người cùng làm việc, cùng tận hưởng khung cảnh đẹp và cùng vui vẻ…

Tỉnh giấc, tôi ước ao một cuộc sống như trong giấc mơ tôi vừa trải qua. Giấc mơ hướng đến chân thiện mỹ. Sự thịnh vượng của gia đình cho thấy sự đảm bảo về kinh tế, sự đẹp đẽ của bức tranh mà chỉ có trong mơ mới thấy cho thấy cái đẹp và sự hưởng thụ, an nhàng của gia đình. Và không khí làm việc vui tươi của cả nhà cho thấy sự gắng bó hạnh phúc. Một mùi khói bốc vào mũi gợi nhớ tất cả về tuổi thơ và hoài niệm… Cuộc đời chỉ có thế, tôi cũng chỉ ước rằng cuộc sống của mình là thế. Giấc mơ là một nhắc nhớ đáng quý và thú vị cho tôi. Tôi hứa sẽ cố gắng thật nhiều để biến giấc mơ đó thành hiện thật trong đời này.

Cảm ơn giấc mơ tuyệt dịu!

 

Nguồn: finandlife

Tags:

StoriesofLife

Báo cáo vĩ mô quý 3 năm 2013

by finandlife04/10/2013 17:03

Số liệu vĩ mô tháng 9 năm 2013 cho thấy một số tín hiệu tích cực của nền kinh tế như tăng trưởng GDP, khả năng kiềm chế lạm phát, tăng trưởng xuất khẩu và các điều kiện bên ngoài…

Chỉ số PMI ngành Sản xuất Việt Nam tháng 9 đạt 51.5 điểm, cải thiện so với mức 49.4 điểm của tháng trước và là kết quả tốt nhất kể từ thời điểm bắt đầu cuộc khảo sát (tháng 4/2011), cho thấy lĩnh vực sản xuất trong nước đang dần phục hồi đặc biệt nhờ nhu cầu bên ngoài.

Tốc độ tăng trưởng GDP trong quí III/2013 đạt mức cao hơn so với quý trước và so với dự báo. Đặc biệt, tăng trưởng ngành công nghiệp chế biến chế tạo - ngành chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế - đang có nhiều chuyển biến tích cực.

Lạm phát trong những tháng gần đây tăng chủ yếu là do tác động của việc điều chỉnh giá hàng hóa cơ bản,dịch vụ công và một phần do yếu tố mùa vụ mà không chịu nhiều tác động của các chính sách tài khoá, tiền tệ.... Xu hướng lạm phát dài hạn đang giảm dần và ổn định quanh mức 7% là những tín hiệu tích cực tạo nền tảng cho sự ổn định lạm phát trung hạn.

Xuất khẩu tiếp tục tăng trưởng ấn tượng, dòng vốn FDI tăng mạnh so với cùng kỳ cho thấy lòng tin của thị trường cũng như của các nhà đầu tư nước ngoài vào sự ổn định của nền kinh tế Việt Nam đang gia tăng mạnh mẽ.

Thanh khoản hệ thống ngân hàng cải thiện, dồi dào giúp mặt bằng lãi suất giảm mạnh. Tỷ giá và thị trường ngoại hối cơ bản ổn định, có một vài thời điểm biến động mạnh nhưng chủ yếu do yếu tố tâm lý, nhất thời…

Tuy nhiên, tăng trưởng tín dụng mặc dù cải thiện so với cùng kỳ nhưng còn khá thấp so với mục tiêu. Doanh thu bán lẻ tăng chậm và thấp hơn nhiều so với cùng kỳ. Xuất nhập khẩu tăng trưởng mạnh nhưng vẫn chủ yếu dựa vào khu vực FDI… Tất cả cho thấy nhu cầu trong nước vẫn chưa thực sự cải thiện, nền kinh tế nhìn chung vẫn còn nhiều khó khăn do dòng vốn tín dụng chưa được hấp thụ tốt, cầu tiêu dùng trong nước còn yếu khiến sản xuất khó có sự tăng trưởng mạnh thời gian tới.

-----------------------------------------------------------------

CHỈ SỐ PMI VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ VÙNG LÃNH THỔ

Chỉ số PMI ngành Sản xuất Việt Nam tháng 9 đạt 51.5 điểm, cải thiện so với mức 49.4 điểm của tháng trước và là kết quả tốt nhất kể từ thời điểm bắt đầu cuộc khảo sát (tháng 4/2011).

Số lượng đơn đặt hàng mới tăng mạnh phản ánh nhu cầu cơ bản của cả khách hàng trong và ngoài nước đều đã cải thiện. Chất lượng sản phẩm tốt hơn và giá cảcạnh tranh (giá đầu ra giảm tháng thứ 6 liên tiếp) cũng giúp tăng trưởng doanh thu bán hàng.

Tồn khothành phẩm tăng nhẹ trong tháng 9. Các nhà sản xuất đã có thể tăng hàng tồn kho, giảm lượng công việc tồn đọng và ứng phó với việc số lượng đơn đặt hàng mới tăng lên trong khi vẫn duy trì ổn định mức sản lượng chung.

Ở khía cạnh giá cả, giá cả đầu vào vẫn tăng trong tháng 9. Mặc dù có giảm nhẹ so với mức cao của tháng 8, mức độ tăng của chi phí trung bình vẫn đáng kể. Trong khi đó, giá cả đầu ra giảm trong bối cảnh áp lực cạnh tranh dẫn đến biên lợi nhuận tiếp tục bị thu hẹp. 

Các nước phát triển tại khu vực Eurozone, Mỹ đang cho thấy những nỗ lực thoát khỏi suy thoái khi chỉ số sản xuất PMI có nhiều dấu hiệu tích cực hơn trong các quý gần đây.

Trong khi đó, chỉ số PMI tại Trung Quốc và một số quốc gia mới nổi ở châu Á cũng đang dần cải thiện trở lại  giúp chỉ số PMI toàn câu tiếp tục cải thiện mạnh. 

 

GDP 9 tháng đầu năm 2013 ước tính tăng 5.14% so với cùng kỳ, trong đó quý I tăng 4.76%; quý II tăng 5%, quý III tăng 5.54%. Tốc độ tăng GDP 9 tháng đầu năm nay xấp xỉ mức tăng cùng kỳ năm 2012 (5.1%) nhưng thấp hơn nhiều so với mức tăng 6.03% của cùng kỳ năm 2011.

Khu vực dịch vụ tiếp tục là khu vực đóng góp chủ yếu vào mức tăng trưởng chung của nền kinh tế với mức tăng của một số ngành chiếm tỷ trọng lớn như bán buôn và bán lẻ; kinh doanh bất động sản, dịch vụ lưu trú và ăn uống, hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm

Khu vực nông, lâm nghiệp & thủy sản khu vực công nghiệp & xây dựng có mức tăng thấp hơn. Thời tiết không thuận lợi, giá bán sản phẩm ở mức thấp trong khi chi phí đầu vào ở mức cao (nông, lâm nghiệp & thủy sản) cùng với khó khăn về vốn, tiêu thụ sản phẩm và mức tồn kho cao (công nghiệp & xây dựng) là nguyên nhân chủ yếu tác động tiêu cực đến tăng trưởng của hai khu vực.Tuy nhiên, ngành công nghiệp chế biến chế tạo (ngành chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế) đã có chuyển biến tích cực với tốc độ tăng ngày càng cao trong năm.

 

Xuất khẩu tháng 9 ước tính đạt 11.3 tỷ USD, giảm 5.2%so với tháng trước và tăng 20% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng, xuất khẩu đạt 96.5 tỷ USD, tăng 15.7% so với cùng kỳ. Trong đó, xuất khẩu của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 66.3% tổng kim ngạch xuất khẩu, tăng 22.4% so với cùng kỳ. Khu vực kinh tế trong nước chiếm 33.7%, chỉ tăng4.4% so với cùng kỳ.

Một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực có kim ngạch tăng cao 6 tháng đầu năm là: Điện thoại các loại và linh kiện (+75.5%); điện tử, máy tính và linh kiện (+45.3%)…

Nhập khẩu tháng 9 ước tính đạt 11.6 tỷ USD, tăng 2.5% so với tháng trước và tăng 24% so với cùng kỳ. Tính chung 7 tháng đầu năm, nhập khẩu ước tính đạt 96.6 tỷ USD, tăng 15.5% so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước chiếm 43.6%, tăng 5.3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 56.4%, tăng 24.8% so với cùng kỳ.

Nhập khẩu 9 tháng đầu nămtăng cao do sự đóng góp của các mặt hàng phục vụ gia công lắp rápnhư: Điện tử, máy tính và linh kiện (+40.5%), điện thoại các loại và linh kiện (+71.3%)…

 

FDI đăng ký tháng 9 ước tính đạt 2.38 tỷ USD, nâng tổng mức FDI đăng kí 9 tháng đầu năm lên đến 15 tỷ USD, tăng 36.1% so với cùng kỳ. FDI đăng ký thời gian qua chủ yếu tập trung vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo (86.4% tổng vốn đăng ký) và kinh doanh bất động sản (3.9%).

FDI giải ngân 9 tháng ước tính đạt 8.6 tỷ USD, tăng 6.4% so với cùng kỳ năm 2012.

 

Theo số liệu của Ngân hàng nhà nước (nguồn Uỷ ban giám sát tài chính), tính đến 18/9/2013, huy động vốn tăng11.7%, trong đó huy động vốn VNĐ tăng 11.6%, huy động vốn ngoại tệ tăng 12.4%. Dư nợ tín dụng toàn hệ thống tăng 5.8% so với đầu năm, trong đó tín dụng bằng VND tăng 10%, tín dụng ngoại tệ giảm 13%.

Tăng trưởng tín dụng mặc dù cải thiện so với cùng kỳ năm trước nhưng vẫn khá thấp so với mục tiêu cho thấy dòng vốn ngân hàng vẫn chưa được hấp thụ tốt

 

Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 01/9/2013tăng 9.3% so với cùng thời điểm năm trước. Một số ngành có chỉ số tồn kho cao so với cùng thời điểm năm trước gồm: Sản xuất đồ uống tăng 121%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 41.2%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 38.9%...

 

Tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 9 tháng đầu năm 2013 ước tăng 12.5% so với cùng kỳ, nếu loại trừ yếu tố giá thì tăng 5.3%, thấp hơn nhiều so với mức tăng 6.7% của cùng kỳ năm 2012.

Trong các ngành kinh doanh, doanh thu bán lẻ ngành thương nghiệp chiếm 76.8%, tăng 12.1%; khách sạn nhà hàng chiếm 12.1%, tăng 14.7%; dịch vụ chiếm 10.2%tăng 14.6%; du lịch chiếm 0.9%, tăng3.9%.

 

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 9/2013 tăng 1.06% so với tháng trước, trong nhóm giáo dục tăng cao nhất với 9.38%.

Chỉ số giá tháng này tăng chủ yếu do các yếu tố sau: (1) Giá điện được điều chỉnh tăng thêm 5% từ ngày 01/8/2013; (2) Một số địa phương tiếp tục thực hiện lộ trình tăng học phí; (3) Nhu cầu tiêu dùng vật phẩm phục vụ học tập của học sinh vào năm học mới tăng cao. Riêng mức tăng của chỉ số giá nhóm giáo dục làm CPI chung cả nước tăng 0.54%.

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 9/2013 tăng 4.63% so với tháng 12/2012 và tăng 6.30% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân chín tháng năm nay tăng 6.83% so với bình quân cùng kỳ năm 2012.

Như vậy, lạm phát trong những tháng gần đây tăng chủ yếu là do tác động của việc điều chỉnh giá hàng hóa cơ bản,dịch vụ công (y tế, giáo dục) và một phần do yếu tố mùa vụ mà không chịu nhiều tác động của những yếu tố cơ bản (như mở rộng chính sách tiền tệ hay chính sách tài khóa).

 

Thanh khoản của hệ thống ngân hàng được cải thiện và khá dồi dào so với giai đoạn trước do tốc độ tăng trưởng huy động luôn đạt mức tăng cao hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng tín dụng của hệ thống. Lãi suất trên thị trường Liên ngân hàng vì vậy dù có một số thời điểm tăng đột biến nhưng nhìn chung đã duy trì được sự ổn định với lãi suất luôn ở mức thấp trong phần lớn thời gian của 9 tháng đầu năm.

 

Tỷ giá hối đoái và thị trường ngoại hối từ đầu năm đến nay khá ổn định, chỉ có vài biến động nhỏ mang tính thời vụ và tâm lý nhất thời. Theo nhận định của Uỷ ban giám sát tài chính Quốc gia, thị trường ngoại hối và tỷ giá hối đoái những tháng cuối năm 2013 nhiều khả năng sẽ tiếp tục duy trì được sự ổn định nhờ cung cầu trên thị trường cơ bản ổn định, dự trữ ngoại tệ tiếp tục tăng khá.

Trong buổi trả lời phỏng vốn mới đây  của hãng tin tài chính Bloomberg, Thủ tường Nguyễn Tấn Dũng cũng cho biết, chính phủ dự kiến sẽ phá giá tiền đồng tối đa 2% từ nay đến cuối năm, đảm bảo phạm vi điều chỉnh không quá 3% trong năm nay (đã điều chỉnh giảm1% vào cuối tháng 6). Điều này sẽ giúp củng cố lòng tin, kích thích dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt nam thời gian tới.

Download báo cáo ở đây.

Thanks VFS Research! 

Nguồn: finandlife|VFS Research

Tags: ,

Economics

AUTOFEED

DISCLAIMER

Blog của HUỲNH NGỌC THƯƠNG, chuyên viên
phân tích đầu tư chuyên nghiệp, hơn 12 năm kinh nghiệm phân tích đầu tư tại thị trường Việt Nam. Blog phục vụ cho mục đích lưu trữ, tham khảo thông tin và chia sẻ góc nhìn cá nhân (không đại diện cho tổ chức nơi tác giả đang làm việc). Tác giả không đảm bảo tính chắc chắn và không chịu trách nhiệm khi người sử dụng thông tin từ website cho hoạt động đầu tư, mua bán chứng khoán của mình.

 

LINKEDIN

Designed by: Nguyễn Chí Hiếu