GAS : Tổng kết 6 tháng đầu năm 2013

by finandlife19/07/2013 09:38

Tổng kết 6 tháng đầu năm 2013:

§     Hệ thống khí hoạt động ổn định, nhu cầu khí của các hộ tiêu thụ ở mức cao là điều kiện thuận lợi để PV Gas gia tăng sản lượng tiêu thụ.

§     Việc giá LPG liên tục giảm từ tháng 1 đến tháng 6/2013, đồng thời nhà máy Lọc dầu Dung Quất giảm sản lượng sản xuất và cung cấp không ổn định đã ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động kinh doanh LPG tại PV Gas.

§     Sản xuất và tiêu thụ: khí khô đạt 5.163 triệu m3, bằng 117% kế hoạch 6 tháng đầu năm, tăng 8% so với cùng kỳ năm 2012; condensate đạt 30.975 tấn, bằng 118% kế hoạch 6 tháng đầu năm, tăng 5% so với cùng kỳ năm 2012; LPG đạt 467.729 tấn, bằng 102% kế hoạch 6 tháng đầu năm (Nếu tính cả đơn vị thành viên thì sản lượng LPG cung cấp ra thị trường đạt 589.341 tấn, trong đó: kinh doanh trong nước là 460.333 tấn, chiếm trên 72% thị phần LPG toàn quốc).

§     Vì cả 3 hệ thống khí Cửu Long, Nam Côn Sơn và PM3- Cà Mau hoạt động ổn định, nhu cầu tiêu thụ khí của các hộ cao, nên PV Gas đã hoàn thành vượt mức kế hoạch sản lượng khí sản xuất và tiêu thụ trong 6 tháng đầu năm.

§     Tính đến thời điểm này, số CBCNV của Công ty mẹ là 1.084 người, trong đó lao động nam chiếm 80%, nữ chiếm 20% và lao động có trình độ từ đại học trở lên chiếm trên 60% (Toàn TCT là 3.371 người). PV GAS đã tổ chức đào tạo/cử trên 2.000 lượt người tham gia các khóa đào tạo nghiệp vụ trong và ngoài nước với kinh phí trên 6 tỷ đồng.                       

Kế hoạch 6 tháng cuối năm 2013:

§     Vận hành an toàn các công trình khí

§     Tổ chức tiếp nhận khí mỏ Hải Thạch Mộc Tinh

Phân tích kỹ thuật:

 

Bài liên quan: 

Phân tích và khuyến nghị GAS

Nguồn: finandlife|PVGAS

Tags:

Stocks

BTP cổ phiếu đột biến đến từ thay đổi cách hoạch toán kế toán.

by finandlife08/07/2013 11:08

Với rất nhiều nhà đầu tư, BTP là một trong những hiện tượng của 6 tháng đầu năm 2013. BTP không những tạo ra những con sóng lớn về giá trên thị trường mà còn có sự thay đổi mạnh mẽ trong báo cáo kết quả kinh doanh năm 2012 và 3 tháng đầu năm 2013. Tuy nhiên, khi đi sâu vào phân tích báo cáo tài chính, chúng ta có thể sẽ phải thất vọng! Rất nhiều lợi nhuận ghi nhận trong năm 2012 đến từ việc thay đổi chính sách hoạch toán kế toán chứ không phải từ sự cải thiện hoạt động sản xuất kinh doanh.

 

 

Tính từ đầu năm 2013 đến đỉnh xác lập vào giữa tháng 5, BTP đã tăng giá gần gấp 3 lần. Đây là một tỷ suất lợi nhuận đáng mơ ước của tất cả nhà đầu tư hiện nay. Sự hấp dẫn của BTP đến từ đâu?

BTP được nhiều nhà đầu tư để ý đến khi Công ty công bố kết quả kinh doanh quý 2 năm 2012 với mức lợi nhuận vượt trội, theo giải trình của Công ty, lợi nhuận tăng lên vì BTP áp dụng theo giá bán mới điều chỉnh từ EVN. Chính điều này đã giúp BTP hoàn thành vượt kế hoạch cả năm 2012 12% chỉ trong 2 quý đầu.

Không dừng lại ở đấy, cả năm 2012, lợi nhuận sau thuế của Công ty đạt 135.3 tỷ đồng, tăng 116% so với năm 2011, trong khi đó doanh thu lại giảm 48%. Điều này có nghĩa là tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu của BTP đã cải thiện một cách mạnh mẽ trong năm 2012.

BTP tiếp tục bồi đắp lòng tin cho nhà đầu tư khi kết quả kinh doanh quý 1 rất ấn tượng. Doanh thu tăng 18% so với cùng kỳ, lợi nhuận sau thuế đạt 88% kế hoạch của cả năm 2013.

Nhưng phân tích báo cáo tài chính lại cho thấy mọi thứ không thật sự triển vọng như vậy. Nhìn kỹ vào cơ cấu doanh thu và lợi nhuận, ta thấy đóng góp chủ yếu vào sự đột biến của BTP là doanh thu tài chính tăng lên và chi phí tài chính giảm đi. Điều đáng nói là sự thay đổi trong doanh thu và chi phí tài chính này chủ yếu đến từ sự thay đổi trong chính sách hoạch toán khoản chênh lệch tỷ giá hoái đối. Theo thông tư 179/2012/TT-BTC ngày 24/10/2012, đối với việc đánh giá lại số dư ngoại tệ cuối kỳ được thực hiện theo tỷ giá mua vào của Ngân hàng thương mại nơi doanh nghiệp mở tài khoản chứ không dùng tỷ giá tính thuế xuất nhập khẩu như trước nữa. Chính quy định này đã giúp cho BTP không những không phải ghi nhận lỗ chênh lệch tỷ giá chưa thực hiện mà còn được hoàn nhập khoản lỗ này của những năm trước, không những thế, BTP còn ghi nhận thêm hơn 2 tỷ doanh thu tài chính chưa thực hiện. Theo tính toán của chúng tôi, tổng giá trị đóng góp của chính sách này vào lợi nhuận của Công ty trong năm 2012 là 86 tỷ đồng, chiếm 47% lợi nhuận trước thuế.

Tại sao việc thay đổi chính sách hoạch toán lại giúp BTP tăng doanh thu tài chính và giảm chi phí tài chính nhiều đến vậy?

Won là một đồng tiền kém thanh khoản, do vậy, chênh lệch giữa tỷ giá mua và tỷ giá tính thuế xuất nhập khẩu của Won rất cao, theo thông tin cuối 2012, giá mua đồng Won của Vietcombank chỉ là 17.74 trong khi đó tỷ giá tính thuế xuất nhập khẩu lại ở mức 19.41, chênh lệch tới 9.4%. Chính vì vậy, việc thay đổi hoạch toán từ dùng tỷ giá xuất nhập khẩu thành dùng tỷ giá mua của ngân hàng đã làm thay đổi mạnh mẽ các khoản mục về tài chính trong báo cáo thu nhập của BTP trong năm 2012.

 

Tỷ đ

2009

2010

2011

2012

Q1/13

Doanh thu tài chính

4.39

8.55

7.47

30.06

27.7

Lãi tiền gởi, tiền cho vay

3.04

8.24

7.3

27.7

4.5

Lãi cl tỷ giá đã thực hiện

0.06

 

0.17

0

 

Lãi cl tỷ giá chưa thực hiện

1.29

0.31

0

2.36

23.2

Chi phí tài chính

185.02

178.09

151.74

26.57

6.92

Lãi tiền vay

39.39

37.93

42.56

30.67

6.92

Lỗ cl tỷ giá đã thực hiện

49.4

56.46

18.96

2.34

 

Lỗ cl tỷ giá chưa thực hiện

96.23

83.62

83.66

0

 

Lỗ do trích lập dự phòng

   

6.44

-6.44

 

Chi phí tài chính khác

 

0.08

0.118

0

 

 

Còn nữa…

Một điểm may mắn của BTP là từ đầu năm 2013 đến nay, đông Won rơi vào xu hướng giảm giá khá mạnh so với USD và cả VND (Theo google finance, Won giảm giá >4% so với VND). Chính điều này đã giúp Công ty ghi nhận một khoản lãi chênh lệch tỷ giá chưa thực hiện 23.2 tỷ trong quý 1, có thể sẽ tiếp tục ghi nhận nữa trong quý 2/2013.

 

 

Tuy nhiên, luật quy định những khoản mục liên quan đến chênh lệch tỷ giá hối đối chưa thực hiện, được ghi nhận vào lợi nhuận trong kỳ, nhưng khoản lợi nhuận này không bị đánh thuế, và công ty không dùng lợi nhuận này để chia cổ tức. Như vậy, ở khí cạnh là cổ đông của BTP, nhà đầu tư đừng quá vui mừng với thông tin lợi nhuận đột biến của Công ty trong thời gian qua, nhà đầu tư nên theo dõi những cải thiện khác về tỷ suất lãi gộp, về sản lượng điện tiêu thụ hơn là chỉ đơn thuần nhìn vào lợi nhuận sau thuế. 

Nguồn: finandlife|Thương, Thành|VFS Research

Tags:

Stocks

Blackberry liệu có trở thành "quá khứ"?

by finandlife29/06/2013 21:44

“Thất vọng” có lẽ là từ mà dân đầu tư phố Wall dành cho BBRY trong báo cáo kết quả kinh doanh mới nhất của Chùm Dâu Đen. Những kỳ vọng về sự cải thiện trong bán hàng, kinh doanh của doanh nghiệp khi ban lãnh đạo đã quyết tâm trong R&D, tung ra nền tảng mới nhất BB10 trong quý 2 vừa rồi, nhưng mọi thứ vẫn chưa thật sự cải thiện. Mặc dù doanh số của công ty đã tăng 15% so với quý liền kề, chủ yếu là sự gia tăng trong tiêu thụ sản phẩm mới Z10 và Q10 nhưng RIM vẫn chưa đáp ứng kỳ vọng của nhà đầu tư, Công ty vẫn chưa thoát cảnh lỗ lã.

 

Khi đọc tin BBRY đã giảm 27.76% trong ngày cuối tuần, khi công ty công bố thông tin về kết quả kinh doanh quý đầu tiên trong niên khóa 2013, tôi thật sự thất vọng, có lẽ tôi cũng là một trong những người sài Blackberry, và muốn Blackberry giành lại thị phần của mình. Nhưng đây là sự thật!

Và… tôi đã đi tìm hiểu nguyên nhân làm sao mà RIM mãi không tìm lại chính mình, ngày càng xa lầy trong kinh doanh, tôi thấy những lý do sau:

1.    Blackberry đã đánh mất quá nhiều thị phần, tụt hậu ngày càng xa so với những đồng hành như IOS (APPLE) hay Android. Doanh thu của APPL những quý gần đây gấp tới 14 lần so với Blackberry.

2.    Chính việc đánh mất thị trường, đã làm cho lượng sản phẩm tiêu thụ của Blackberry khá khiêm tốn so với APPL và điều đó có nghĩa là Blackberry không còn hưởng lợi từ  economies of scale. Chính vì thế mà Blackberry phải gánh chịu chi phí R&D lên đến >12% trên doanh thu, trong khi đó APPLE chỉ <3% và chi phí quản lý, bán hàng của Blackberry cũng quá cao so với APPL (22% so với 6%)

3.    Không những thế, APPL áp dụng chính sách Trung Quốc hóa công đoạn sản xuất, giúp doanh nghiệp tiết kiệm khá nhiều chi phí về giá vốn, làm cho sản phẩm của Cty có tính cạnh tranh khá tốt trên thị trường về mặt giá cả (đặc biệt khi so sánh về chất liệu mà APPL sử dụng với Blackberry). Trong khi đó, hầu hết chi tiết máy của Blackberry vẫn được sản xuất ở những nước Châu Âu với chi phí đắt đỏ. Theo báo cáo mới nhất của Blackberry, biên lãi gộp của Cty là 34% thấp hơn so với mức 38% của APPL.

Nhân đây, cũng nói một chút về rủi ro khi nhà đầu tư giao dịch trên sàn chứng khoán nước ngoài, nơi không có biên độ giao dịch. Cổ phiếu trong phiên có thể tăng/giảm đột ngột lên đến vài chục %, trong bối cảnh được sài margin tối đa thì việc cháy tài khoản là bình thường. Nhưng qua việc này cũng cho thấy, mức độ bảo mật thông tin của những cty này khá là tốt, nếu ở VN, đảm bảo thông tin thế này đã rò rỉ, và giá cổ phiếu đã giảm trước ngày công bố thông tin rồi. 

Đến đây thì lại thấy dường như chứng trường Việt Nam “thị trường hiệu quả” hơn các thị trường khác các pác nhỉ J ? 

Nguồn: finandlife|yahoo finance

Tags:

Economics | Stocks

Phân tích và khuyến nghị GAS (Cổ phiếu Tổng Cty Khí Việt Nam)

by finandlife28/06/2013 15:44

Trong một báo cáo phân tích mới về GAS, chúng tôi xin trích lược ở đây để mọi người tham khảo.

Chúng tôi cho rằng GAS là một trong những cổ phiếu đáng để đầu tư ở giai đoạn hiện nay vì:

-          GAS là đơn vị đầu ngành trong phân phối khí

-          Sản lượng tiêu thụ có xu hướng ngày càng tăng

-          Giá mua khí tại 2 mỏ chính Cửu Long và Nam Côn Sơn chỉ tăng 2%/năm đến năm 2016 theo lộ trình ký kết với các mỏ.

-          Trong khi đó, giá bán khí lại có xu hướng tăng ngày một nhanh.

-          Chính những lợi thế về tăng trưởng sản lượng, tốc độ tăng trưởng giá bán nhanh hơn giá mua làm cho doanh thu và biên lợi nhuận của công ty không ngừng cải thiện, dẫn đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp rất cao.

-          Cuối cùng, các phương pháp định giá so sánh cho thấy GAS đang được giao dịch dưới giá trị hợp lý của cổ phiếu.

------------------------------------------------------------------------------------------

Vị thế dẫn đầu trong ngành công nghiệp khí

Với lợi thế là thành viên của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) hoạt động trong ngành công nghiệp khí, PV Gas có toàn quyền khai thác, phân phối khí và các sản phẩm khí khô do PVN sở hữu hoặc liên doanh. Cùng với hệ thống cơ sở hạ tầng công trình khí từ khâu thu gom, vận chuyển, chế biến đến phân phối khí… PV Gas trở thành doanh nghiệp khí hàng đầu Việt Nam, hoạt động đơn lẻ trong ngành.

Bên cạnh đó, PV Gas còn là nhà cung cấp LPG số một Việt Nam với khoảng 70% thị phần trong năm 2012. Ưu thế để PV Gas giữ vững và củng cố vị trí hàng đầu này chính là khả năng tự sản xuất sản phẩm, hệ thống kho chứa, cầu cảng xuất nhập LPG đồng bộ và hệ thống phân phối rộng khắp thông qua các công ty thành viên.

Những lợi thế trên đã giúp PV Gas trở thành một trong những đơn vị chủ lực của Tập đoàn dầu khí Việt Nam, chiếm khoảng 10% tổng doanh thu toàn tập đoàn và 2.5% GDP cả nước.

Được các nhà đầu tư lớn quan tâm

Hiện tại, GAS đang là cổ phiếu có vốn hóa cao nhất sàn HSX, chiếm khoảng 14% tổng vốn hóa toàn sàn. Do đó biến động giá cổ phiếu GAS sẽ có tác động rất lớn đến chỉ số VNINDEX. Cùng với nền tảng hoạt động kinh doanh tốt, cổ phiếu GAS luôn nhận được nhiều sự quan tâm của khối ngoại và các nhà đầu tư lớn trên thị trường.

Tiềm năng tăng trưởng cao và bền vững

Hiện tại, năng lực sản xuất các sản phẩm khí của PV Gas chưa đủ đáp ứng nhu cầu trong nước. Toàn bộ sản phẩm khí khô đưa vào bờ đều được tiêu thụ hết, ưu tiên cung cấp cho các nhà máy điện, đạm (khoảng 95% sản lượng khai thác), phần còn lại được cung cấp cho các hộ công nghiệp.

Theo đánh giá của chính phủ, tình trạng thiếu điện diễn biến ngày càng phức tạp do thời tiết khô hạn. Chính phủ đã có chủ trương chuyển dần từ việc xây dựng các nhà máy thủy điện sang nhiệt điện. Do đó, thị trường tiêu thụ khí tại các nhà máy điện còn rất nhiều tiềm năng để phát triển. Ước tính, nhu cầu khí cho các nhà máy nhiệt điện sẽ tăng từ 6.5 tỷ m3 năm 2008 lên đến 15 tỷ m3 năm 2015.

Bên cạnh đó, với những ưu điểm so với nhiên liệu truyền thống (than, dầu…), nhu cầu sử dụng sản phẩm khí khô của các hộ công nghiệp đang gia tăng mạnh mẽ. Dự kiến, bắt đầu từ năm 2015, PV Gas sẽ phải nhập khẩu một lượng lớn khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG) để bù đắp thiếu hụt cho thị trường.

Nhu cầu tiêu thụ LPG trong nước cũng đang tăng trưởng rất nhanh. Trong khi nguồn cung trong nước hiện mới chỉ đáp ứng được khoảng 40% nhu cầu (từ nhà máy Dinh Cố của PV Gas (350 ngàn tấn/năm) và nhà máy lọc dầu Dung Quất). Năm 2008, PV Gas bắt đầu nhập khẩu để đáp ứng tốt hơn nhu cầu trong nước, giữ vững vị thế nhà cung cấp LPG số 1 Việt Nam.

Hưởng lợi nhờ cơ chế giá mua bán khí khô

Hàng năm, PV Gas mua khoảng 82% sản lượng khí khô từ bể Cửu Long và Nam Côn Sơn với giá mua được giữ cố định theo hợp đồng dài hạn với các chủ mỏ khí. Sản lượng còn lại PV Gas mua từ bể Ma Lay – Thổ Chu với giá mua thả nổi theo biến động giá dầu DO và FO trên thị trường Singapore. Giá mua khí trung bình năm 2011 của PV Gas là khoảng 3.5 USD/MMBTU và chỉ tăng khoảng 2%/năm đến năm 2016.

Trong khi đó, giá bán khí khô cho các nhà máy điện, đạm được chính phủ kiểm soát chặt chẽ và thấp hơn nhiều so với bán cho các hộ công nghiệp và giá trên thị trường thế giới. Năm 2011, giá bán cho các nhà máy điện bắt đầu tăng từ 3.55 USD/MMBTU lên 4.80 USD/MMBTU đối với sản lượng ngoài mức bao tiêu theo lộ trình tăng giá khí cho điện của chính phủ. Dự kiến, giá khí cho điện ngoài mức bao tiêu sẽ tăng 4%/năm đến năm 2016 và tăng 2%/năm sau năm 2016.

Giá khí bán cho nhà máy đạm Phú Mỹ năm 2011 là 4.59 USD/MMBTU, năm 2012 tăng 40% lên 6.43 USD/MMBTU và sẽ tăng 2%/năm đến năm 2016.

Sản lượng còn lại sau khi bán cho điện và đạm sẽ được phân phối cho các hộ công nghiệp qua hệ thống đường ống của các công ty thành viên. Năm 2012, giá khí PV Gas bán cho PGD trung bình khoảng 10 USD/MMBTU, tăng mạnh so với mức 6.4 USD/MMBTU năm 2011.

Dự kiến năm 2015, PV Gas sẽ bắt đầu nhập LNG để bù đắp thiếu hụt trong nước. Chúng tôi cho rằng, giá bán khí khô cho hộ công nghiệp sẽ tiệm cận với giá thế giới vào thời điểm đó. Sản lượng khí bán cho hộ công nghiệp cũng sẽ tăng khoảng 15% mỗi năm nhờ hệ thống đường ống khí thấp áp ngày càng mở rộng của PV Gas (qua PGD). Do đó, thời gian tới, mảng khí khô bán cho hộ công nghiệp nhiều khả năng sẽ mang lại lợi nhuận cao cho công ty.

Dịch chuyển mạnh trong cơ cấu lợi nhuận

Hoạt động thu gom và phân phối khí khô hàng năm chiếm khoảng 50% doanh thu thuần của PV Gas. Giá bán tăng giúp tỷ trọng trong tổng lãi gộp của sản phẩm này tăng mạnh từ 39% năm 2010 lên 52% năm 2011, 59% năm 2012, và 68% trong Quý 1/2013. Biên lãi gộp của sản phẩm này cũng cải thiện từ mức 10.5% năm 2010 lên 24% năm 2012 và 39.7% Quý 1/2013.

Sản xuất và kinh doanh LPG là hoạt động quan trọng thứ 2, chiếm khoảng 40% doanh thu thuần và >22% tổng lãi gộp của PV Gas. Hiện tại, công ty phải nhập khẩu 60% sản lượng tiêu thụ mỗi năm để cung cấp cho thị trường, do đó giá đầu ra và đầu vào phụ thuộc nhiều vào giá thế giới. Năm 2012, giá trung bình cao hơn so với năm 2011 8%, biến động liên tục với biên độ dao động rộngtác động xấu đến tâm lý tiêu dùng. Cùng với đó, việc nhà máy lọc dầu Dung Quất ngưng cung cấp LPG kéo dài trong tháng 5 và đầu tháng 6, đột xuất trong tháng 8đã làm cho sản lượng tiêu thụ sụt giảm 12% so với năm 2011. Tuy nhiên, biên lãi gộp của hoạt động này vẫn duy trì ở mức ổn định 13.3% trong năm 2012 (so với 11.1% và 14.1% của năm 2011 và 2010).

Dịch vụ vận chuyển khí mỗi năm chỉ chiếm khoảng 3 – 4% tổng doanh thu nhưng chiếm đến 13 – 14% tổng lãi gộp với biên lãi gộp cao do chi phí của hoạt động này chủ yếu là chi phí cố định (khấu hao, lương nhân viên…).

Doanh thu, lợi nhuận tăng trưởng ấn tượng

Giá bán và sản lượng của các sản phẩm khí mà đặc biệt là khí khô tăng nhanh trong khi giá vốn tăng chậm giúp kết quả kinh doanh của PV Gas tăng trưởng ấn tượng qua các năm. Giai đoạn 2010 – 2012, doanh thu thuần của công ty tăng trưởng trung bình (CAGR) 19%/năm, lợi nhuận gộp và lợi nhuận ròng tăng trưởng trung bình trên 41%/năm. (doanh thu thuần năm 2011 tăng mạnh do tỷ giá tăng).

Chúng tôi cho rằng, doanh thu và lợi nhuận của PV Gas sẽ tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng cao hiện tại đến năm 2015 khi giá khí khô bán cho các hộ công nghiệp tiệm cận giá thế giới.

Hiệu quả hoạt động cải thiện mạnh

Biên lãi ròng năm 2012 đạt 14.4%, tăng mạnh so với mức trung bình 2 năm trước. Trong khi đó, hiệu suất sử dụng tài sản tiếp tục duy trì ở mức ổn định giúp công ty cải thiện mạnh tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản và vốn chủ sở hữu.

Cơ cấu vốn của công ty đang khá lành mạnh với tỷ lệ nợ tương đối thấp. Với số dư tiền mặt cao, công ty hoàn toàn có khả năng đảm bảo nhu cầu vốn cho các dự án đầu tư sắp tới.

Rủi ro kinh doanh tương đối thấp

Chi phí nguyên vật liệu (mua khí) chiếm khoảng 80% giá vốn hàng bán của công ty (còn lại là chi phí khấu hao ~8%, và chi phí nhân công, chi phí mua ngoài). Với việc giá bán khí khô đầu ra đang tăng nhanh theo lộ trình, trong khi giá mua khí đầu vào tăng chậm theo các hợp đồng dài hạn đã kí với các chủ mỏ, hoạt động kinh doanh khí khô của PV Gas chịu rủi ro kinh doanh thấp.

Hoạt động sản xuất kinh doanh LPG tương đối rủi ro hơn do giá mua và giá bán ảnh hưởng hoàn toàn bởi giá LPG thế giới. Giá LPG thế giới biến động quá nhanh sẽ gây khó khăn cho công ty trong việc giữ ổn định biên lợi nhuận. Đặc biệt trong điều kiện kinh tế trong nước khó khăn, nhu cầu tiêu thụ sản phẩm LPG đang bị ảnh hưởng. Tuy nhiên, với lợi thế là đơn vị cung cấp LPG số một Việt Nam, nắm giữ 70% thị phần LPG trong nước, chúng tôi cho rằng, PV Gas vẫn có khả năng đảm bảo mức biên lợi nhuận ổn định.

Hiện nay, một số hoạt động của PV Gas có ảnh hưởng từ biến động tỷ giá gồm: hoạt động mua khí lô PM3 và 46 – Cái Nước, hoạt động nhập khẩu LPG và việc vay vốn bằng ngoại tệ để đầu tư dự án. Tuy nhiên, việc bán hàng theo tỷ giá hiện hành giúp công ty hạn chế tối đa rủi ro biến động tỷ giá

Giá LPG xuất khẩu từ Trung Đông sang khu vực châu Á biến động mạnh trong năm 2012, trung bình tăng 8% so với năm 2011 làm giảm nhu cầu tiêu thụ trong nước. 5 tháng đầu năm 2013, giá nguyên liệu này đang trong xu hướng giảm, dự kiến thời gian tới, giá LPG thế giới trong ngắn hạn sẽ ở mức ổn định.

Kế hoạch kinh doanh 2013 thận trọng

Năm 2013, Căn cứ vào những khó khăn trong nhu cầu tiêu thụ do suy thoái kinh tế và việc đồng loạt thực hiện các dự án đầu tư, cần huy động nguồn lực lớn, ban lãnh đạo công ty đã đặt ra kế hoạch kinh doanh khá thận trọng. Doanh thu thuần chỉ đạt 55,751 ngàn tỷ đồng, giảm 18.5%, lợi nhuận sau thuế giảm 23.8% so với thực hiện năm 2012. Các chỉ tiêu về sản lượng tiêu thụ khí cũng sụt giảm so với cùng kỳ.

Lợi nhuận quý I/2013 tăng trưởng đột biến

Quý I/2013, Doanh thu thuần của công ty sụt giảm 13% so với cùng kỳ do việc ghi nhận doanh thu bán khí PM 3 Cà Mau chuyển về ghi nhận tại PVN. Việc này làm giảm doanh thu, tuy nhiên không ảnh hưởng đến lợi nhuận của công ty do trước đây công ty cũng chỉ thực hưởng phần cước phí vận chuyển (chênh lệch giá bán – giá mua).

Sản lượng và giá bán khi khô tăng giúp biên lãi gộp mảng này trong quý I tăng mạnh lên mức 39.7%. Mảng kinh doanh LPG cũng có biên lãi gộp khả quan ở mức 15.9% giúp cho biên lãi gộp toàn công ty tăng mạnh lên mức 30.2% so với mức 19.2% cùng kỳ. Bên cạnh đó, trong quý I, PV Gas còn ghi nhận một khoản lợi nhuận khác lên đến 1,125.6 tỷ đồng do hoàn nhập quỹ Phát triển Khoa học công nghệ giúp lợi nhuận sau thuế Quý I/2013 của công ty đạt 4,374.8 tỷ đồng, tăng 82.8% so với cùng kỳ, hoàn thành 57% kế hoạch cả năm.

Định giá

Sử dụng dữ liệu so sánh gồm 7 công ty cùng ngành trong khu vực Châu Á. Chúng tôi tính toán được mức P/E và P/B trung bình của nhóm công ty này lần lượt là 11.2 lần và 1.96 lần. Với kết quả lợi nhuận Quý 1, chúng tôi cho rằng GAS sẽ tiếp tục tăng trưởng mạnh trong năm 2013. Kết quả dự phóng cùng với việc kết hợp phương pháp định giá so sánh P/E và P/B (tỷ trọng 60% cho P/E và 40% cho P/B), chúng tôi cho rằng giá hợp lý cuối năm 2013 của GAS khoảng 60,000 đồng/cổ phiếu. So với mức giá đóng cửa 55,500 đồng vào ngày 25/06/2013, GAS đang bị định giá thấp khoảng 8%.

Kỹ thuật:

Nếu hỗ trợ 57 vững, tích lũy quanh mốc này, trong trường hợp an toàn, nhà đầu tư có thể đợi GAS về vùng 51.

 

Mời download báo cáo chi tiết ở đây.

Thanks VFS Research.

Nguồn: finandlife|Đức|VFS Research

Tags:

Stocks

Thị trường sữa nước Việt Nam: Những kẻ tí hon đối đầu Vinamilk, Cô gái Hà Lan

by finandlife11/06/2013 09:16

Một vài số liệu liên quan đến ngành sửa update, lưu  lại để làm tư liệu. Xem thêm những báo cáo liên quan đến ngành sữa ở cuối bài.

Sữa vốn là hàng hóa thiết yếu nên mặc dù kinh tế suy thoái nhưng ngành này vẫn có tốc độ tăng trưởng khá tốt. Theo báo cáo của Euromonitor, doanh thu từ các sản phẩm sữa nước năm 2012 tăng trưởng 21% so với năm 2011, các sản phẩm sữa bột có mức tăng trưởng cao nhất với 23%.

Nhưng sân chơi trong ngành sữa chủ yếu thuộc về Vinamilk và FrieslandCampina Việt Nam (nhãn hiệu chính là Dutch Lady) với hơn 2/3 thị phần.

Vinamilk, FrieslandCampina: hai bình sữa nước khổng lồ tại Việt Nam

Năm 2012, doanh thu từ nhóm sản phẩm sữa nước đạt hơn 15.500 tỷ đồng, gấp 10 lần so với nhóm sản phẩm sữa bột. Khách hàng tiêu thụ sản phẩm sữa nước chủ yếu là trẻ em trong khi sữa bột hướng đến đối tượng khách là người trưởng thành.

Với quy mô lớn, nhóm khách hàng ổn định do thói quen uống sữa mới chỉ phát triển đối với trẻ em nên ngành hàng sữa nước vẫn là mục tiêu của phần lớn các doanh nghiệp.

Theo thống kê của Euromonitor, hiện có hơn 10 doanh nghiệp tham gia cuộc chơi dành thị phần sữa nước gồm: Vinamilk, FrieslandCampina, Hanoi Milk, Đường Quảng Ngãi, Sữa Ba Vì, Sữa Mộc Châu,… Tuy nhiên Vinamilk và FrieslandCampina Việt Nam dành phần lớn sân chơi, các doanh nghiệp khác chỉ chiếm được một góc nhỏ bên cạnh hai người khổng lồ. Năm 2012, hai ông lớn này chiếm gần 66% thị phần toàn ngành.

Thị trường sữa nước Việt Nam: Những kẻ tí hon đối đầu Vinamilk, Cô gái Hà Lan (1)

Thị phần các doanh nghiệp sữa năm 2012 (Nguồn: Euromonitor)

Vinamilk hiện có 5 thương hiệu sữa nước trong đó dòng sản phẩm Vinamilk chiếm 35,6% thị phần toàn ngành.

FrieslandCampina Việt Nam là công ty liên doanh thành lập từ năm 1995 tại Việt Nam giữa công ty xuất khẩu tỉnh Bình Dương (Protrade) và Royal FrieslandCampina-tập đoàn sữa lớn của Hà Lan.

FrieslandCampina Việt Nam hiện có 4 dòng sản phẩm sữa nước trong đó Dutch Lady (Sữa Cô gái Hà Lan) chiếm vị trí chủ lực với 15,8% thị phần năm 2012.

Vinamilk dành phần thắng trong cuộc đua thị phần

Cuộc đua dành thị phần giữa hai ông lớn ngành hàng sữa nước đã diễn ra từ lâu và phần thắng dần nghiêng về Vinamilk. Nếu như năm 2009, khoảng cách chênh lệch thị phần giữa hai công ty này chỉ hơn 13% thì đến năm 2012 đã nâng lên gần gấp đôi với con số 25,1%. Vinamilk liên tục gặt hái được thành tựu khi doanh thu năm 2012 đạt 27.300 tỷ đồng, trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt gần 180 triệu USD.

Thị trường sữa nước Việt Nam: Những kẻ tí hon đối đầu Vinamilk, Cô gái Hà Lan (2)

Chạy đua thị phần giữa Vinamilk và Friesland Campina Việt Nam

Với lợi thế về vốn, Vinamilk không ngừng mở rộng quy mô sản xuất khi có 1 nhà máy sản xuất sữa ở New Zealand và 11 nhà máy sản xuất sữa từ Bắc vào Nam đã chạy hết 100% công suất. Với mục tiêu lọt vào top 50 công ty sản xuất sữa lớn nhất thế giới năm 2017, Vinamilk sẽ khánh thành 2 nhà máy chế biến sữa hiện đại bậc nhất Thế giới vào đầu quý II năm 2013.

Ngoài ra Vinamilk còn đẩy mạnh hoạt động sản xuất sang các mảng kinh doanh khác gồm sữa bột, sữa đậu nành và nước uống đóng chai. Mới đây Vinamilk cho ra mắt nhãn hiệu nước uống ICY.

Thị trường nước uống không cồn đang được nhiều ông lớn ngành hàng tiêu dùng quan tâm.

Khác với Vinamilk đẩy mạnh sang mảng nước uống và sữa đậu nành, FrieslandCampina Việt Nam lại tập trung hơn đến các sản phẩm sữa bột. Mới đây công ty này tung ra nhãn hiệu mới trong mảng sữa bột là Dutchlady Complete và đẩy mạnh quảng cáo cho nhãn hàng Friso.

Theo Euromontor, người tiêu dùng Việt Nam có thói quen lựa chọn sữa theo nhãn hiệu lâu năm, ít khi mua các nhãn hiệu tư nhân. Chính vì vậy chiến lược tung ra nhãn hàng mới tận dụng thương hiệu Dutchlady của FrieslandCampina Việt Nam khá khôn ngoan.

Thị trường sữa nước Việt Nam: Những kẻ tí hon đối đầu Vinamilk, Cô gái Hà Lan (3)

Sữa đậu nành- đường đua riêng giữa Vinamilk và Đường Quảng Ngãi

Đường Quảng Ngãi manh nha lấn sân sang ngành sữa từ năm 1997 với sự thành lập Vinasoy thuộc nhà máy sữa Trường Xuân. Ban đầu mặt hàng chủ lực của nhà máy là sữa tiệt trùng, sữa chua và kem, nhãn hiệu sữa đậu nành Fami chỉ là mặt hàng phụ. Tuy nhiên việc chen chân cạnh tranh với những ông lớn như Vinamilk, FrieslandCampina rõ ràng không hiệu quả trong khi sữa Fami lại tăng trưởng tốt.

Đường Quảng Ngãi nhanh chóng chuyển hướng chiến lược sang kinh doanh sữa đậu nành- mảng sản phẩm mà hai ông lớn còn bỏ ngỏ. Từ năm 2009, công ty này liên tục đầu tư cho hoạt động sản xuất sữa đậu nành.

Ước tính mỗi năm Vinasoy đầu tư 5-7% doanh thu cho việc quảng bá thương hiệu. Chiến lược kinh doanh lựa chọn sản phẩm mới tỏ ra khá hiệu quả khi doanh thu từ sữa của Đường Quảng Ngãi liên tục tăng trưởng. Đây có thể xem là đối thủ đáng gờm của Vinamilk đối với mảng kinh doanh sữa đậu nành hiện nay.

Thị trường sữa nước Việt Nam: Những kẻ tí hon đối đầu Vinamilk, Cô gái Hà Lan (4)

Tăng trưởng doanh thu từ sữa của đường Quảng Ngãi

Cửa nào cho doanh nghiệp bé?

Đứng cạnh hai ông lớn là Vinamilk và FrieslandCampina Việt Nam, những doanh nghiệp nhỏ hơn như sữa Long Thành, TH Milk Tân Hiệp Phát, Casmilk,… liệu làm sao để tăng trưởng, tăng thị phần? Đây là câu hỏi khó cho các nhà quản lý của các doanh nghiệp này.

Các giải pháp mà các doanh nghiệp nhỏ nước ngoài thường sử dụng bao gồm: tăng cường hoạt động Marketing, nâng cao chất lượng chăm sóc khách hàng, đầu tư nghiên cứu các sản phẩm mới, tăng thị phần qua các thương vụ M&A….

Việc đẩy mạnh xây dựng thương hiệu, quảng cáo đã được doanh nghiệp có thị phần bé như Sữa Ba Vì hướng tới. Điển hình là việc “săn” phù thủy Trần Bảo Minh về làm giám đốc điều hành và ra mắt thương hiệu Love’ in Farm với mục tiêu phát triển nông nghiệp chăn nuôi bò sữa, bảo vệ quyền lợi người nông dân và người tiêu dùng Việt Nam.

Còn những doanh nghiệp sữa không đủ tiềm lực tài chính làm thương hiệu sẽ dùng cách gì để tăng trưởng? Liệu trong tương lai có ông lớn sản xuất sữa nước ngoài nào khác đặt chân vào Việt Nam và thực hiện các thương vụ M&A với các doanh nghiệp này? Đó cũng là một giả thiết có thể đặt ra.

Báo cáo công ty sữa VNM của BVSC

Báo cáo nghiên cứu thói quen tiêu dùng sữa thanh/tiệt trùng

Báo cáo triển vọng ngành bán lẻ 2013

 

Kim Thủy | Trí Thức Trẻ

 

Tags:

Stocks

AUTOFEED

DISCLAIMER

Blog này phục vụ cho mục đích lưu trữ, tham khảo thông tin và thảo luận. Chúng tôi không đảm bảo tính chắc chắn và không chịu trách nhiệm khi người sử dụng thông tin từ website cho hoạt động đầu tư, mua bán chứng khoán của mình.

Designed by: Nguyễn Chí Hiếu