Phân tích và khuyến nghị DHC

by finandlife07/07/2014 10:08

Công ty cổ phần Đông Hải Bến Tre (DHC) có hoạt động sản xuất kinh doanh chính là giấy và bao bì carton.

Đến cuối năm 2013, DHC có qui mô ở mức trung bình với tổng lao động 275 người và tổng tài sản đạt 400 tỷ đồng. Cũng trong năm này, hoạt động kinh doanh của DHC đã phục hồi ấn tượng với 460 tỷ đồng doanh thu và 27 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế. Lãi suất ngân hàng giảm mạnh từ năm 2013 cùng với việc tái cơ cấu doanh nghiệp, nỗ lực cắt giảm chi phí của ban lãnh đạo đã giúp DHC đạt được những thành quả rất tốt trong năm qua và có thể sẽ bước vào một giao đoạn mới phát triển ổn định hơn trong tương lai.

Kết quả kinh doanh dự kiến 6 tháng rất ấn tượng, theo đó, doanh thu có thể đạt 240 tỷ đồng, tăng 20% so với cùng kỳ; lợi nhuận sau thuế có thể đạt 20 tỷ đồng, tăng 174% so với cùng kỳ. Chúng tôi tiếp tục đánh giá tích cực tình hình kinh doanh của doanh nghiệp trong phần còn lại của năm 2014. Doanh thu và lợi nhuận sau thuế cả năm có thể lên đến 501 tỷ và 38.8 tỷ đồng, tương đương tăng 10% và 44% so với năm 2013. EPS F đạt 2,600 đồng/cổ phiếu.

Chúng tôi khuyến nghị mua vào DHC với giá mục tiêu trong ngắn và trung hạn là 18,000 đồng/cổ phiếu, cao hơn 20% so với giá đóng cửa ngày 03/07/2014.

-----------------------------

TÓM TẮT

Công ty cổ phần Đông Hải Bến Tre (DHC) được thành lập năm 1994, hoạt động chính của công ty hiện nay là sản xuất kinh doanh giấy công nghiệp và bao bì carton. DHC có trụ sở chính đặt tại thành phố Bến Tre.

Đến cuối năm 2013, DHC có qui mô ở mức trung bình với tổng lao động 275 người và tổng tài sản đạt 400 tỷ đồng. Cũng trong năm này, hoạt động kinh doanh của DHC đã phục hồi ấn tượng với 460 tỷ đồng doanh thu và 27 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế. Lãi suất ngân hàng giảm mạnh từ năm 2013 cùng với việc tái cơ cấu doanh nghiệp, nỗ lực cắt giảm chi phí của ban lãnh đạo đã giúp DHC đạt được những thành quả rất tốt trong năm qua và có thể sẽ bước vào một giao đoạn mới phát triển ổn định hơn trong tương lai.

SẢN PHẨM CHÍNH

Chiếm 70% doanh thu của toàn công ty hiện nay là sản phẩm giấy kraft phục phụ cho ngành công nghiệp bao gói. Năm 2013, DHC sản xuất được 38,800 tấn giấy kraft. Công ty đã tiêu thụ ra thị trường hết 32,000 tấn và mang về 310 tỷ đồng doanh thu trong năm. Phần còn lại 6,800 tấn, DHC sử dụng làm đầu vào để sản xuất ra sản phẩm thứ hai của công ty: Bao bì carton. Kết thúc năm 2013, DHC sản xuất và tiêu thụ được hơn 15.5 triệu đơn vị sản phẩm bao bì carton, đóng góp 141 tỷ đồng vào doanh thu cả năm (chiếm 30% tổng doanh thu).

ĐẦU VÀO

Để sản xuất ra giấy kraft, DHC sử dụng nguyên liệu chính là giấy phế liệu. Nguồn giấy phế liệu đầu vào để sản xuất giấy thành phẩm được công ty thu gom chủ yếu từ 6 đại lý nằm rải rác tại khu vực miền Đông và Tây Nam Bộ.

Hàng năm DHC cũng nhập giấy phế liệu từ nước ngoài với tỷ lệ khoảng 30% tổng nhu cầu nguyên liệu. Giấy phế liệu nhập từ nước ngoài có ưu điểm là tỷ lệ thu hồi bột giấy cao hơn, nhưng giá thành cũng cao hơn từ 10% đến 20% so với giá mua giấy phế liệu trong nước.

Tình hình giá mua vào giấy phế liệu trong nước hiện nay tương đối ổn định. Nguồn cung tăng khá nhanh trong một vài năm gần đây nhờ vào tốc độ tiêu dùng trong ngành giấy tăng ở mức hai con số trong nhiều năm qua đã làm tăng nguồn giấy phế liệu. Mặt khác, dù tỷ lệ thu hồi giấy phế thải mặc dù còn rất thấp so với các nước như Singgapo, Thái Lan… và chỉ đạt khoảng 30%, nhưng lại đang có xu hướng tăng theo thời gian.

DHC có hiệu suất sử dụng đầu vào đạt ở mức khá cao, trung bình đạt 1.17 lần. Tức là để sản xuất ra 1 tấn giấy kraft thành phẩm, DHC chỉ cần trung bình 1.17 tấn giấy phế liệu đầu vào.

 

NHÀ MÁY VÀ NĂNG LỰC SẢN XUẤT

Đông Hải Bến Tre hiện đang có hai nhà máy đặt tại huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

Nhà máy sản xuất bao bì của DHC có tổng công suất đạt 25 triệu mét vuông bao bì carton mỗi năm. Nhà máy sản xuất giấy Giao Long đặt tại huyện Châu Thành có tổng công suất đạt khoảng 50,000 tấn giấy kraft/năm. Hiện nhà máy này đang hoạt động với công suất thực tế trung bình đạt 80%.

DHC cũng đang có kế hoạch đầu tư xây dựng nhà máy Giao Long giai đoạn 2 với công suất thiết kế lớn gần gấp đôi so với công suất hiện nay. Dự kiến DHC sẽ tiến hành đầu tư từ năm 2015, khi nhà máy đi vào hoạt động, tổng công suất sản xuất giấy sẽ đạt 140,000 tấn/năm.

 

ĐẦU RA VÀ THỊ PHẦN:

Sản phẩm giấy kraft:  DHC tiêu thụ toàn bộ sản phẩm của mình trong khu vực miền Đông và Tây Nam Bộ.

Sản phẩm bao bì carton:  Chủ yếu bán cho các công ty chế biến thủy sản trong khu vực miền Tây Nam Bộ.

Thị phần:  Năm 2013, tổng mức tiêu thụ giấy của cả nước ước đạt 3 triệu tấn giấy các loại. Với sản lượng bán ra đạt gần 39,000 tấn giấy kraft và bao bì carton, DHC đang chiếm thị phần rất nhỏ: 1.3% thị phần của cả nước.

KHỞI ĐẦU KHÔNG ĐƯỢC SUÔN SẺ

Kể từ đầu năm 2011 - năm mà nhà máy giấy Giao Long chính thức đi vào vận hành, doanh thu trung bình toàn công ty đã tăng 30%, nhưng mức sản lượng bán ra thấp hơn hẳn so với tổng công suất thiết kế, trong khi định phí đang ở mức cao (khấu hao trong năm lên đến 24 tỷ đồng) làm lãi gộp của công ty giảm nhẹ. Mặt khác, phương án tài trợ vốn đầu tư của nhà máy giấy Giao Long bằng vốn vay ngân hàng với lãi suất cao đã dẫn đến hệ quả là chi phí tài chính xóa sạch lợi nhuận của cả năm.

THAY ĐỔI TỪ 2012

Năm 2012 là năm kinh doanh tồi tệ nhất của DHC với doanh thu giảm 32% và lãi ròng âm 2.5 tỷ đồng, kéo theo giá cổ phiếu của công ty cũng sụt giảm tới 50% trong năm. Nguyên nhân: Việc thoái vốn tại công ty con Besaco làm DHC mất hẳn doanh thu của hoạt động chế biến thủy sản truyền thống. Trong khi nhà máy Giao Long non trẻ có lãi gộp còn ít ỏi (43 tỷ đồng) đã phải gồng gánh toàn bộ 55 tỷ đồng chi phí tài chính và chi phí vận hành. Nếu không có khoản lợi nhuận 15 tỷ đồng từ việc thanh lý tài sản, lợi nhuận sau thuế của DHC đã âm đến 12 tỷ đồng.

Việc thoái vốn khỏi Besaco mặc dù làm doanh thu và lãi gộp giảm mạnh, nhưng đây cũng là khởi đầu của một giai đoạn mới tốt đẹp hơn cho DHC khi công ty có nhiều thay đổi trong ban lãnh đạo và cả mô hình kinh doanh theo hướng năng động và tinh gọn hơn.

BỨT PHÁ TỪ 2013

Ngoài việc sản lượng và doanh thu tăng do bán hàng hiệu quả hơn trong điều kiện nền kinh tế phục hồi, quyết định thay thế nguyên liệu đốt bằng trấu thay cho than củi và việc cắt giảm bớt lao động, tổ chức lại nhân sự đã giúp DHC cắt giảm chi phí đáng kể và mở rộng biên lãi gộp lên đến 19%, cao hơn hẳn so với mức 12% của năm 2012. Lãi gộp trong năm đạt 83 tỷ đồng, tăng gấp đôi so với năm 2012.

Quan trọng nhất: cùng với những nỗ lực cắt giảm nợ vay của công ty, lãi suất ngân hàng giảm đáng kể đã giúp DHC giảm được 20% chi phí tài chính trong năm và mang về cho cổ đông 27 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế - mức cao nhất trong vòng 3 năm qua.

Sự phục hồi mạnh mẽ của DHC là điển hình rõ nhất cho sự thành công của nhiều công ty công chúng Việt Nam trong năm qua nhờ kết hợp được hai yếu tố: sự chủ động và nỗ lực tái cơ cấu, cắt giảm chi phí và may mắn đến từ sự phục hồi của nền kinh tế cùng với lãi suất ngân hàng giảm nhanh chóng.

DỰ BÁO QUÍ 2 VÀ 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2014

Tại đại hội cổ đông DHC ngày 21/06/2014 vừa qua, ban lãnh đạo công ty đã báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh 5 tháng đầu năm 2014 với những thành quả vượt bậc. Theo đó, lũy kế 5 tháng, công ty đạt 190 tỷ đồng doanh thu và 18 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế. Với ước tính khoảng 50 tỷ đồng doanh thu và 2 tỷ đồng lãi sau thuế trong tháng 6, chúng tôi dự báo 6 tháng đầu năm nay, DHC sẽ đạt được 240 tỷ đồng doanh thu và 20 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế, tăng lần lượt 20% và 174% so với cùng kỳ. Bên cạnh việc doanh thu tăng 20% giúp DHC tăng trưởng tốt lãi gộp, kết quả tăng trưởng lợi nhuận ấn tượng này xuất phát chủ yếu từ việc chi phí tài chính giảm mạnh so với cùng kỳ:

Thời điểm đầu năm 2014, DHC đã nỗ lực cắt giảm dư nợ vay đầu kỳ xuống 40% so với thời điểm đầu năm 2013, cùng với lãi suất vay trung bình cũng giảm từ mức 15% xuống chỉ còn 9% hiện nay đã làm DHC giảm được 6 tỷ đồng tiền lãi phải trả, dự báo 6 tháng đầu năm 2014, chi phí lãi vay chỉ ở mức 5.2 tỷ đồng, giảm 54% so với cùng kỳ. Mặt khác, quí 2 năm 2013, DHC thoái vốn toàn bộ tại công ty thủy sản Bến Tre và phải ghi nhận một khoản lỗ 6.7 tỷ đồng, được hoạch toán trong chi phí tài chính cùng kỳ, trong khi cùng kỳ năm nay chi phí tài chính của DHC chỉ có 5.2 tỷ đồng tiền lãi vay.

Tóm lại: Chi phí tài chính 6 tháng đầu năm 2013 của DHC lên đến 18.1 tỷ đồng, trong khi quí này chỉ có 5.2 tỷ đồng. Đây chính là nguyên nhân chủ yếu giúp DHC mang về cho cổ đông 1330 đồng EPS chỉ trong 6 tháng đầu năm 2014, tăng 174% so với cùng kỳ năm ngoái.

NĂM 2014 BẮT ĐẦU MỘT GIAI ĐOẠN MỚI ỔN ĐỊNH HƠN

Chúng tôi dự báo năm 2014 sẽ là một năm hoạt động hiệu quả và thành công của DHC với doanh thu và lợi nhuận sau thuế cả năm lần lượt đạt 500 tỷ đồng và 38.8 tỷ đồng, tăng 10% và 44% so với năm 2013.

Nguyên nhân chủ yếu:

Việc đưa vào vận hành thành công lò đốt bằng trấu công suất 18 tấn/giờ để thay thế 2 lò hơi đốt củi làm công ty cắt giảm được chi phí nguyên liệu; Cắt giảm 8% nhân công nhưng vẫn đảm bảo được sản lượng đã giúp công ty tăng năng suất lao động trong năm. Hai nhân tố chủ yếu này giúp công ty có thể tiến hành tăng mạnh khấu hao để nhanh thu hồi vốn (từ mức 19.5 tỷ của năm 2013, tăng lên 29 tỷ đồng trong năm 2014) mà vẫn đảm bảo được lãi gộp tăng và biên lãi gộp chỉ giảm nhẹ từ 19% năm 2013 xuống mức 17% trong năm nay.

Điểm quan trọng nhất giúp DHC đạt được tốc độ tăng trưởng 44% trong năm nay và mang về gần 2,600 đồng EPS cho cổ đông là chi phí tài chính giảm mạnh so với năm 2013. Dự báo, năm 2014 DHC sẽ chỉ tốn khoảng 10 tỷ đồng cho chi phí tài chính, giảm 60% so với năm trước.

Dòng tiền của DHC cũng sẽ khỏe mạnh hơn khi công ty nỗ lực thực hiện đồng thời cả ba giải pháp: nỗ lực tăng hiệu quả bán hàng, giảm giá vốn; giảm nợ vay và tăng khấu hao. Nhờ đó, chúng tôi tin rằng trong tương lai không xa, DHC sẽ bước vào một giai đoạn mới phát triển ổn định hơn khi không phải gánh trên vai những áp lực nợ nần nhiều như trong các năm qua.

RỦI RO KINH DOANH

Với quyết tâm và nỗ lực cắt giảm nợ vay trong hơn một năm qua của ban lãnh đạo và đang thực sự đạt được những thành công rõ nét từ nỗ lực này, chúng tôi tin rằng trong các năm tiếp theo, rủi ro tài chính không còn là rủi ro đáng kể đối với DHC mà thay vào đó là rủi ro kinh doanh khi mà cấu trúc ngành hiện nay đang có nhiều thay đổi đáng kể.

Bình quân 5 năm qua, ngành giấy Việt Nam đã có tốc độ tăng trưởng gấp đôi GDP. Mặc dù tăng trưởng cao, nhưng mức tiêu thụ giấy bình quân đầu người của Việt Nam vẫn còn rất thấp và chỉ đạt 33 kg/người vào năm 2013, trong khi đó, con số ở các quốc gia phát triển như EU, Nhật Bản là 130 kg/người, trung bình của các quốc gia khu vực Châu Á đạt 40 kg/người.

Tốc độ tăng trưởng cao và tiềm năng còn rất lớn đã kéo theo rất nhiều nhà sản xuất trong và ngoài nước liên tục đầu tư vào ngành. Gần đây nhất là 3 dự án khổng lồ của các doanh nghiệp FDI:

1, Dự án nhà máy giấy công suất 600,000 tấn/năm của Lee&Man Paper đang khởi động lại ở tỉnh Hậu Giang, tổng vốn đầu tư 1.2 tỷ USD, dự kiến năm 2015 sẽ đi vào hoạt động (nguồn: BáoTuổiTrẻ).

2, Dự án sản xuất giấy bao bì công suất 350,000 tấn/năm tại Bình Dương của Nine Dragon – nhà sản xuất bao bì lớn nhất thế giới hiện nay. Dự kiến nhà máy sẽ đi vào hoạt động từ cuối 2015. (nguồn: An Bình)

3, Cũng tại Bình Dương, liên doanh Kraft Vina cũng rót 180 triệu đô la để đầu tư nhà máy giấy công suất 225,000 tấn/năm (nguồn: BáoĐầu)

 

Chỉ tính riêng ba dự án FDI điển hình ở trên, năng lực sản xuất cũng đã lên đến gần 1.2 triệu tấn/năm, chiếm 40% tổng nhu cầu của cả nước năm 2013. Nếu cả 3 dự án này đều đi vào hoạt động theo đúng kế hoạch, nguồn cung sẽ tăng mạnh từ năm 2016 và cạnh tranh sẽ tăng lên đáng kể cho DHC.

Không chỉ các doanh nghiệp FDI mới dồn dập rót vốn đầu tư vào ngành giấy, các doanh nghiệp trong nước cũng đã đầu tư rất nhiều vào ngành, điển hình như dự án tăng công suất lên thêm 28,000 tấn/năm của Giấy Sài Gòn trong năm 2014…

Với nguồn cung tăng mạnh trong các năm tới, tình hình cạnh tranh sẽ thêm gay gắt và rủi ro kinh doanh của DHC sẽ tăng lên đáng kể.

RỦI RO GIAO DỊCH

Bên cạnh rủi ro kinh doanh, nhà đầu tư cần lưu ý đến một rủi ro đáng kể khác là rủi ro giao dịch khi hai cổ đông lớn của DHC hiện nay là ông Đoàn Văn Đạo (cựu chủ tịch DHC) và công ty cổ phần Thủy Sản Bến Tre (ABT) đang liên tục thoái vốn khỏi DHC. Cụ thể:

1, Giao dịch của cổ đông ABT:

Vào thời điểm đầu năm 2014, ABT sỡ hữu 1.44 triệu cổ phần, tương đương 9.6% tại DHC. Từ đó đến nay, ABT đã liên tục bán ra. Tính đến hết ngày 24/06/2014, ABT đã bán thành công 700,000 cổ phiếu và đến nay chỉ còn sở hữu 744,000 cổ phiếu, tương đương 5% tại DHC. Có thể trong thời gian tới, ABT sẽ tiếp tục bán ra để thoái hết phần còn lại.

2, Giao dịch của cựu chủ tịch Đoàn Văn Đạo:

Trước tháng 7 năm 2013 – thời điểm mà DHC tiến hành chuyển giao lãnh đạo quan trọng, ông Đoàn Văn Đạo sở hữu 21.6% tại DHC (3.24 triệu cổ phần). Từ đó đến nay, ông Đoàn Văn Đạo đã tiến hành bán ra hai lần với tổng cộng hơn 2.6 triệu cổ phiếu và tỷ lệ sở hữu của ông tại DHC đã giảm xuống chỉ còn 4.3% vào đầu tháng 7 năm nay.

Với đà bán đang mạnh của hai cổ đông lớn này, chúng tôi đặc biệt lưu ý các nhà đầu tư đang xem xét mua vào cổ phiếu DHC tại thời điểm hiện nay.

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

Chúng tôi đánh giá rất cao khả năng tái cơ cấu và lèo lái doanh nghiệp của thế hệ lãnh đạo mới hiện nay mà điển hình là tân chủ tịch Lê Bá Phương. Những nỗ lực cắt giảm chi phí sản xuất, giảm nợ vay và cải thiện khả năng kinh doanh của công ty đã giúp DHC bứt lên từ một doanh nghiệp thua lỗ năm 2012 thành một doanh nghiệp có tốc độ tăng trưởng cao hiếm có trong hai năm qua với tốc độ tăng trưởng EPS năm dự kiến năm nay sẽ lên đến 44% và đạt 2,600 đồng/cổ phiếu.

Từ việc EPS gộp bị âm 140 đồng/cổ phiếu trong 2 năm 2011 và 2012, DHC đã hoàn toàn thay đổi với EPS gộp của 2 năm 2013 và 2014 dự kiến đạt 4,400 đồng. Đây là cơ sở để DHC tiến hành chi trả cổ tức tổng cộng cho hai năm 2013 và 2014 với tỷ lệ lên đến 25% sau hai năm không chi trả.

Với những cải thiện đáng kể qua từng quí trong suốt một năm qua cùng với những triển vọng sáng sủa trong ngắn hạn, chúng tôi đánh giá DHC là một cổ phiếu tiềm năng. Với mức giá hiện nay, DHC rất đáng để mua vào và nắm giữ.

Giá mục tiêu trong ngắn và trung hạn: 18,000 đồng/cổ phiếu. Mức giá mục tiêu này tương đương với hệ số PE forward = 7x., chỉ bằng ½ hệ số PER trung bình của toàn thị trường hiện nay.

 

Analyst Nguyễn Văn Tiến, VFS Research

Tags:

Stocks

Great Graphic|TCM cập nhật June 2014

by finandlife03/07/2014 15:02

Tags:

Stocks

Đọc giúp bạn|“Đại gia” ximăng VICEM: Chủ yếu là … “buôn đá”

by finandlife26/06/2014 09:25

Lỗ trong 9 tháng đầu năm và lãi trong 3 tháng cuối năm

Để được hoạt động, bất kỳ nhà máy xi măng nào cũng có mỏ đá riêng. Thế nhưng các nhà máy xi măng không khai thác mỏ của mình mà đi mua… ngoài luồng.

Giám đốc một công ty làm nhiệm vụ buôn đá cục khai thác từ đáy hồ cạn, tên T. tiết lộ: "Khai thác mỗi m3 đá mất 45.000 đồng/m3, bao gồm chi phí nhân công, thuốc pháo, xe. Sau đó, đá này được chở tới các trạm nghiền bán lại cho nhà máy xi măng có giá 110.000 đồng”. Nhưng điều bất ngờ hơn đến từ lời kể của T: "Chúng em không được nhận hết 110.000 đồng/m3. Khi nhà máy thanh toán tiền, chúng em chỉ được giữ lại 85.000 đồng/m3. Phần còn lại 30.000 đồng/m3 chúng em phải nộp lại cho các "các bác” trong nhà máy. Không có tiền "cắt phế” thì làm sao "các bác” chịu mua đá của "thổ phỉ”.

Và nếu nhân chênh lệch giá đá khai thác và giá đá hoạch toán là 65.000 m3 đá, ngành xi măng đã "ăn” vào lợi nhuận khoảng 2.800 tỷ đồng. Còn tính theo giá "cắt phế” 30.000 đồng/m3 lại cho "các bác nhà máy” thì tổng tiền "ăn” vào lợi nhuận là 1.290 tỷ đồng. Vậy phần lợi nhuận này đã chui vào túi ai (?).

Tại thời điểm ấy, giá cổ phiếu HT1 trên sàn chứng khoán là 5.300 đồng/cổ phiếu. Có nghĩa là cứ mỗi cổ phiếu HT1, vốn nhà nước phải mua (thực chất là bắt nợ) đắt thêm 4.700 đồng, tương ứng với mức chênh lệch 564 tỷ đồng cho 120 triệu cổ phiếu. Đây chính là số vốn nhà nước đã "mất trắng” do phi vụ cấn nợ bằng cổ phần tăng thêm thông qua việc mua cổ phiếu HT1 của VICEM.

-----------------------------------

Tổng công ty Xi măng Việt Nam (VICEM) trong 3 năm trở lại đây luôn báo lãi, và mức lãi luôn nằm trong định mức được phép. Nhưng, có một sự thực được hé ra, các công ty thành viên của VICEM ít làm nhiệm vụ sản xuất kinh doanh ximăng thành phẩm mà chủ yếu nghiệp đi... "buôn đá”.

Lỗ đều đặn, lãi nhịp nhàng

Lật lại báo cáo tài chính của Vicem mấy năm qua sẽ nhận thấy rằng, dù tình hình buôn bán sản xuất xi măng có khó khăn hay thuận lợi ra sao thì kết quả kinh doanh của VICEM đều đặn được chia làm 2 phần: lỗ trong 9 tháng đầu năm và lãi trong 3 tháng cuối năm. Cuối kỳ, VICEM đương nhiên lãi. Ví dụ, năm 2013 doanh thu 9 tháng của VICEM đạt 20.000 tỷ đồng, nhưng chốt sổ hàng 3 quý vẫn lỗ 219 tỷ đồng. Bất ngờ đến cuối năm, VICEM tiêu thụ được 23 triệu tấn sản phẩm, doanh thu 30.000 tỷ đồng, biến từ lỗ sang lãi 528 tỷ đồng.

Hoặc năm 2012 doanh thu 9 tháng đầu năm của VICEM đạt 20.000 tỷ đồng, báo lỗ 200 tỷ đồng song cuối năm tài chính, VICEM lội ngược dòng tổng doanh thu 28.830 tỷ đồng đạt lợi nhuận 540 tỷ đồng, tiêu thụ được 22,34 triệu tấn sản phẩm. Trước đó nữa, vào năm 2011, 3 quý đầu năm VICEM lỗ 200 tỷ đồng nhưng cuối năm bất thình lình lãi 540 tỷ đồng.

Nhìn vào kết quả sản xuất kinh doanh của VICEM nhận thấy, lợi nhuận của VICEM được cài số lùi. Cũng suốt trong 3 năm này, khi các doanh nghiệp ngoài VICEM bán clinker cho nhau ở mức giá 630.000 đồng - 650.000 đồng/ tấn trong khi giá thành sản xuất chỉ từ 550.000 đồng - 580.000 đồng/tấn. Tức là chỉ riêng việc bán clinker đã đủ mang lại lợi nhuận, thì VICEM diễn tiến ngược lại: Dù "buôn bán nội bộ” cho nhau, không phải mua đi bán lại giữa các doanh nghiệp bên ngoài, nhưng VICEM khẳng định "lỗ”. Vấn đề chi phí sản xuất thực tế đang là câu hỏi lớn được nhiều người đặt ra đối với VICEM.

Nghiệp "buôn đá” ngoài luồng

Ngày nắng nóng đầu tháng 6, lần theo con đường ghồ ghề, phủ bụi trắng xóa vào khu khai thác, lưu giữ nguyên liệu Nhà máy xi măng Hải Phòng (Minh Đức - Thủy Nguyên) thuộc thành viên của VICEM thấy duy nhất 1 trạm nghiền hoạt động, xung quanh có các xe ben đang chở đá đổ vào. Một trong những tài xế xe ben khẳng định, họ vào chở đá vào bán cho Nhà máy xi măng Hải Phòng.

Để được hoạt động, bất kỳ nhà máy xi măng nào cũng có mỏ đá riêng. Thế nhưng các nhà máy xi măng không khai thác mỏ của mình mà đi mua… ngoài luồng. Phải chăng các mỏ đá không đủ cung ứng nguyên liệu cho vòng đời của nhà máy. Hay ở phía sau có mảng đen khác? Khi đi mua ngoài, họ có thể đội thêm chi phí, kê khai giá tăng gấp đôi. Theo kiểu, mua 1 nhưng kê giá 2, mất tiền Nhà nước chứ nhà mình không mất tiền. Quanh khu vực xã Minh Đức có nhiều núi đá vôi. Hoạt động khai thác đá cũng diễn ra dưới dạng "thổ phỉ”. Tức là người bên ngoài nhà máy đến xã Minh Đức khai thác đá rồi bán lại cho nhà máy xi măng.

Giám đốc một công ty làm nhiệm vụ buôn đá cục khai thác từ đáy hồ cạn, tên T. tiết lộ: "Khai thác mỗi m3 đá mất 45.000 đồng/m3, bao gồm chi phí nhân công, thuốc pháo, xe. Sau đó, đá này được chở tới các trạm nghiền bán lại cho nhà máy xi măng có giá 110.000 đồng”. Nhưng điều bất ngờ hơn đến từ lời kể của T: "Chúng em không được nhận hết 110.000 đồng/m3. Khi nhà máy thanh toán tiền, chúng em chỉ được giữ lại 85.000 đồng/m3. Phần còn lại 30.000 đồng/m3 chúng em phải nộp lại cho các "các bác” trong nhà máy. Không có tiền "cắt phế” thì làm sao "các bác” chịu mua đá của "thổ phỉ”.

Rõ là đang có sự chênh lệch cực lớn giữa đá khai thác với đá bán cho các nhà máy xi măng, và một phần "phế” quá cao đang được "các bác nhà máy” giữ lại. Đó cũng là nguyên nhân chính khiến tại sao các nhà máy xi măng mà chủ xị là các lãnh đạo chỉ thích đi mua đá ngoài, ít tự mình đi khai thác để sản xuất. Thực tế ấy cũng diễn ra ở Ninh Bình với việc mua nguyên liệu rẻ ghi sổ đắt. Nhiều chủ khai thác đá tại Ninh Bình khẳng định họ bán đá nguyên liệu cho nhà máy với giá 112.000 đồng - 120.000 đồng/m3.

Vậy làm sao các nhà máy xi măng có thể mua đá ngoài dễ dàng, qua mắt được cơ quan quản lý trong khi bản thân họ có chức năng phải khai thác? Ở Ninh Bình, hay Hải Phòng hay bất kỳ nơi nào có nhà máy xi măng các nhà máy thực hiện cơ chế khai thác dưới dạng doanh nghiệp. Nhưng về bản chất là khoán cho các cai thầu. Khi có đá thành phẩm mua bán như giữa các doanh nghiệp với nhau. Anh Hải- một cai đá ở Gia Viễn (Ninh Bình) kể: "Em đầu tư mọi thứ từ nhân công đến máy móc, rồi chủ thanh toán cho em 42.000 đồng/m3. Đến nhà máy đã được hô biến lên 110.000 đồng/m3. Như vậy, giá nguyên liệu đầu vào của mặt hàng xi măng vì vậy đã bị thổi giá ở mức cao hơn 2 lần so với giá thực tế khai thác”.

Và chỉ cần làm phép nhẩm sơ bộ lấy con số năm 2012: Toàn ngành xi măng tiêu thụ hơn 61 triệu tấn, trong đó tiêu thụ nội địa khoảng 47 triệu tấn, riêng VICEM tiêu thụ khoảng 24 triệu tấn. Để có 61 triệu tấn xi măng thành phẩm, cần phải khai thác 61 triệu tấn đá tương đương 43 triệu m3 đá. Và nếu nhân chênh lệch giá đá khai thác và giá đá hoạch toán là 65.000 m3 đá, ngành xi măng đã "ăn” vào lợi nhuận khoảng 2.800 tỷ đồng. Còn tính theo giá "cắt phế” 30.000 đồng/m3 lại cho "các bác nhà máy” thì tổng tiền "ăn” vào lợi nhuận là 1.290 tỷ đồng. Vậy phần lợi nhuận này đã chui vào túi ai (?). Lợi nhuận của Vicem toàn năm 2013 là 528 tỷ đồng chỉ tương đương khoảng 50% tổng số tiền ước tính do chênh lệch giá nguyên liệu khai thác thực tế và mua vào của các thành viên. Kinh doanh kiểu thổi giá, cắt phế khiến cho VICEM lỗ cũng là dễ hiểu.

Báo cáo không đề ngày và những cổ phiếu cắt cổ

Nhưng nếu lỗ triền miên và cuối kỳ cũng báo lỗ thì dễ bị cơ quan quản lý soi xét, bắt giải trình. Trở lại với các cú điều chỉnh ngoạn mục từ lỗ 9 tháng sang cả năm lãi của VICEM, rõ ràng đặt ra nhiều nghi vấn.

Chẳng hạn, VICEM Hà Tiên (Kiên Giang) là thành viên của VICEM dù được ưu ái kinh doanh đá "trong nhà”, được "thổi giá” nhưng đến năm 2013 đã nợ với các chủ nợ là thành viên của VICEM 1.261 tỷ đồng. VICEM Hà Tiên được sự cho phép của Tổng công ty mẹ tăng vốn đúng bằng tổng số nợ để cấn trừ nợ bằng…cổ phần.

Và theo biên bản đại hội cổ đông bất thường ngày 24/8/2013 của VICEM Hà Tiên, thì "trên cơ sở tính toán giá trị sổ sách và thị trường chứng khoán hiện nay, đại hội cổ đông thông qua mức giá phát hành là 10.000đ/cổ phần”. Song trên thực tế trong thời gian từ ngày 22/8 đến 28/8/2013, giá thị trường cổ phiếu của Công ty CP Xi măng Hà Tiên 1 (HT1) chỉ quanh quẩn ở mức 4.900 - 5.100 đồng/ cổ phiếu, tức là chỉ bằng 50% giá do VICEM Hà Tiên quyết định đưa ra chào bán.

Chưa hết, đại hội này đồng ý để VICEM, công ty "mẹ” của VICEM Hà Tiên, cấn nợ toàn bộ lượng 120 triệu cổ phần phát hành tăng thêm, để nâng tỷ lệ nắm giữ vốn điều lệ tại đây từ 67,38% lên 79,69%. Trong báo cáo (không đề ngày) gửi Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, VICEM Hà Tiên thông báo ngày 20/12/2013 đã bán xong toàn bộ 1.200 tỷ đồng cổ phiếu cho Tổng VICEM. Tại thời điểm ấy, giá cổ phiếu HT1 trên sàn chứng khoán là 5.300 đồng/cổ phiếu. Có nghĩa là cứ mỗi cổ phiếu HT1, vốn nhà nước phải mua (thực chất là bắt nợ) đắt thêm 4.700 đồng, tương ứng với mức chênh lệch 564 tỷ đồng cho 120 triệu cổ phiếu. Đây chính là số vốn nhà nước đã "mất trắng” do phi vụ cấn nợ bằng cổ phần tăng thêm thông qua việc mua cổ phiếu HT1 của VICEM.

Với việc mua cổ phiếu cấn nợ với giá cao gấp đôi giá thị trường thì các nguyên tắc, quy định về bảo tồn vốn nhà nước đã mặc nhiên bị VICEM… bỏ qua. Phải chăng, những khoảng mờ trong điều hành đang được biến hóa khôn lường?

Hà Linh - Thúy Hằng

 

ĐẠI ĐOÀN KẾT

Tags:

Economics | Stocks

DXG| Cổ phiếu lướt sóng

by finandlife21/06/2014 10:11

DXG là một cổ phiếu bất động sản thu hút sự chú ý của nhiều nhà đầu tư. Công ty này đã duy trì tốc độ tăng trưởng lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh (ttm) liên tục 7 quý liên tiếp bất chấp tình trạng khó khăn chung của ngành.

Ngoài ra, thời gian vừa qua xuất hiện khá nhiều thông tin mới về việc thay đổi cổ đông trong công ty như:

  • Mutual Fund Elite liên tục mua vào cổ phiếu, đến ngày 14/05/2014 số lượng sở hữu DXG của quỹ này đã lên đến 5.4 triệu cổ phiếu, chiếm 7.18%.
  • Hay trong ngày hôm qua (18/06/2014), thị trường xuất hiện tin Chủ tịch Lương Trí Thìn đăng ký bán thỏa thuận 10 triệu cổ phiếu DXG.

Sự xuất hiện nhiều thông tin gần đây cùng với quá trình cải thiện lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh đã giúp cổ phiếu giao dịch sôi động và tạo ra tín hiệu Breakout ngày 18/06/2014. Theo phân tích kỹ thuật, nhiều khả năng giá sẽ diễn biến tăng trong thời gian tới và sớm chạm vùng kháng cự 16.5.

 

Trên đây là những diễn biến ngắn hạn, phục vụ cho nhà đầu tư muốn tận dụng sóng. Đối với những nhà đầu tư dài hạn, chuyên viên phân tích của chúng tôi đưa ra một vài lưu ý đặc biệt (mời liên hệ với VFS Research), trong những lưu ý đó, nổi bật lên là việc phát hành liên tục của công ty này thời gian qua. Nếu như năm 2009, DXG chỉ có 80 tỷ vốn điều lệ thì đến cuối 2014 con số này có thể lên đến 1250 tỷ đồng. Điều này đồng nghĩa với việc cổ phiếu bị pha loãng quá nhanh và giá trị mà công ty mang lại cho cổ đông không theo kịp.

 

Nguồn: finandlife

Tags:

Stocks

VNM Đại gia ngành sữa có một vài dấu hiệu đuối sức

by finandlife15/06/2014 08:25

Tốc độ tăng trưởng doanh thu theo quý giảm dần về mức ổn định.

 

Tốc độ tăng trưởng lợi nhuận trước thuế và sau thuế đã bắt đầu về dưới 0, quý thứ 2 liên tiếp.

 

Biên lãi gộp tuy vẫn duy trì ở mức ổn định, nhưng hiện có dấu hiệu suy giảm

 

Dấu hiệu suy giảm thể hiện khá rõ trong biểu đồ bên dưới.

 

Công ty bắt đầu phải gia tăng chi phí bán hàng để giữ vững thị phần, một dấu hiệu cho thấy chu kỳ tăng trưởng bắt đầu chững lại.

 

Cuối cùng là diễn biến của thị giá VNM, Thị giá đã không còn giữ được xu hướng tăng, và đang bắt đầu điều chỉnh giảm. Rất có thể xu hướng này sẽ còn tiếp tục trong 1 vài năm tới, cho đến khi quay lại xu hướng tăng giá hợp lý của kênh màu đỏ bên dưới.

 

 

Nguồn: finandlife

Tags:

Stocks

AUTOFEED

DISCLAIMER

Blog này phục vụ cho mục đích lưu trữ, tham khảo thông tin và thảo luận. Chúng tôi không đảm bảo tính chắc chắn và không chịu trách nhiệm khi người sử dụng thông tin từ website cho hoạt động đầu tư, mua bán chứng khoán của mình.

Designed by: Nguyễn Chí Hiếu