Đọc giúp bạn|Tản mản về chuyện học kinh tế lượng

by finandlife14/11/2013 09:03

Trước đây, tôi đã từng gặp khá nhiều khó khăn trong việc ứng dụng kinh tế lượng, chạy các mô hình để nghiên cứu và phân tích kinh tế. Tôi cũng đã cố gắng đọc về econometrics nhưng mức độ đến hiện nay cũng chỉ ở tầm trung bình, tình cờ đọc bài này trên blog kinhteking, tôi lưu lại ở đây 1 phần làm tư liệu cho mình, 1 phần chia sẻ cho các bạn đang làm nghiên cứu.

-----------------------------------------------------------------------------

Trước hết, cảm ơn một bạn đọc (Mrs Left) đã gửi bài cho Website về những quy tắc ngầm dành cho các nhà kinh tế lượng ứng dụng (Link download tại: http://www.uta.edu/faculty/crowder/papers/1467-6419.00179.pdf ). Đây là một vài viết hay, tuy nhiên khá triết lý, sâu sắc và dành cho nhóm đối tượng cụ thể -các nhà kinh tế lượng ứng dụng, những nhà nghiên cứu, và các sinh viên sau đại học (Tiến sĩ hoặc thạc sĩ- những nhà nghiên cứu tiềm năng). Với nhóm đối tượng phổ thông, ví dụ như sinh viên đại học, các bạn có thể đọc thêm để biết, bởi chỉ có trải nghiệm mới thật sự hiểu những vấn đề đề cập, trải nghiệm càng nhiều thì mức độ hiểu càng cao. Nhân đây, tản mạn một tý về kinh tế lượng vì có bạn đề cập đến vấn đề học tập kinh tế lượng ở bậc đại học (Góp ý của bạn có đề cập đến đối tượng cụ thể nhưng mục tiêu của website có tính phổ quát nên tôi sẽ không đề cập đến đối tượng đấy). Những tản mạn này là từ góc nhìn cá nhân tôi, dĩ nhiên không loại trừ những cá nhân khác nhau có những góc nhìn khác nhau. Tản mạn phù hợp cho những bạn sinh viên lựa chọn con đường nghiên cứu kinh tế.

Có 3 sự thật mà tôi muốn đề cập:

- Khi bạn nộp hồ sơ cho chương trình Tiến sỹ Kinh tế học hay kể cả Kinh tế lượng ở nước ngoài, sẽ không có bất kỳ yêu cầu nào liên quan đến việc bạn biết chạy phần mềm hay không. Nói cách khác việc bạn biết chạy phần mềm không ảnh hưởng lắm đến việc bạn được lựa chọn. Việc biết các phần mềm này sẽ giúp bạn có lợi thế khi học, tuy nhiên lợi thế này không thật sự quá lớn.

- Lớp tôi học, có 1/3 sinh viên có xuất phát từ Toán (Không biết gì về kinh tế lượng và các phần mềm kinh tế), 2/3 còn lại ít nhiều liên quan đến kinh tế, nhưng không quá 1/3 trong số này biết việc sử dụng các phần mềm kinh tế lượng (có lẽ rất ít bạn hiểu được ý nghĩa của các mô hình kinh tế lượng). Tuy nhiên, điểm chung của tất cả các sinh viên là kỹ năng Toán rất tốt. Do vậy, nếu bạn dự định theo con đường nghiên cứu, bạn nên chuẩn bị Toán thật tốt. (Đừng đồng nghĩa việc này với việc giỏi toán ở Việt Nam. Toán dành cho kinh tế không cần đến mức quá thông minh để tạo ra một cái gì mới, mà chính là kỹ năng để vận dụng các kiến thức toán đã học- Chỉ cần bạn không sợ, học nhiều sẽ quen thôi. Có bạn sẽ đặt vấn đề rằng, Toán học quá vô biên, nên chuẩn bị những gì? Câu trả lời có thể tìm thấy từ blog của Mankiw (Giáo sư kinh tế Harvard) – http://gregmankiw.blogspot.co.uk/2006/05/which-math-courses.html

- Sử dụng phần mềm không phải là toàn bộ của thế giới kinh tế và nó không có gì quá vĩ đại nếu bạn cảm thấy quen thuộc với nó. Thế giới kinh tế này có thể chia thành: nghiên cứu lý thuyết và nghiên cứu ứng dụng. Trong giới nghiên cứu lý thuyết, nhiều giáo sư kinh tế hàng đầu thậm chí không biết dùng bất kỳ một phần mềm nào. (Ví dụ những giáo sư trong nhóm Lý thuyết Trò chơi). Sở thích của họ là dùng “bút chì và giấy” để chơi với Toán học. Sẽ không quá ngạc nhiên, khi bạn thấy những nhà kinh tế lượng lý thuyết không biết dùng bất kỳ phần mềm nào.

Với ba sự thật này, tôi KHÔNG hàm ý rằng SINH VIÊN Ở BẬC CỬ NHÂN không cần quan tâm bất kỳ ứng dụng phần mềm kinh tế lượng nào. Thay vào đó, tôi nghĩ rằng:

1. Với các bạn sinh viên Kinh tế ở bậc cử nhân có dự định theo con đường nghiên cứu, hãy cố gắng đầu tư thời gian cho học tập, càng nhiều càng tốt, đặc biệt là Toán và các môn kinh tế học. Hãy thích ứng với hoàn cảnh bạn được đào tạo và luôn cố gắng hết mình. Có thể chương trình của trường bạn không phải là tốt nhất, nhưng nếu vì thế mà bạn không chuẩn bị cho mình một tinh thần học tốt thì phần nào đó bạn chưa chuẩn bị để học trong một môi trường tốt hơn. Cụ thể về kinh tế lượng, tôi cũng có quan sát và rằng nội dung kinh tế lượng trong các chương trình cử nhân Kinh tế nhìn chung ở US và UK không quá phức tạp, nhưng tính hệ thống và liên kết của họ cao- từ việc chuẩn bị toán và thống kê. Tuy nhiên, tôi và những người bạn của tôi cũng học cử nhân trong nước, nhưng khi học môi trường quốc tế, chúng tôi vẫn khá tự tin. Từ góc nhìn của chúng tôi, môi trường là quan trọng, nhưng sức mạnh ý chí và nội lực sẽ giúp bạn vượt qua những giới hạn của môi trường.

2. Đừng quá cuồng tín vào kinh tế lượng, bởi không có bất kỳ phương pháp hay phần mềm nào được đặt cho một cái tên là hoàn hảo. Luôn thận trọng khi bạn chọn phương pháp nghiên cứu định lượng, trong đó có 1 vài điểm quan trọng sau:

a. Đầu tiên, khi xây dựng mô hình hồi quy, bạn cần phải nghiên cứu thật rõ các biến nào nên đưa vào mô hình? Giải thích tại sao bạn chọn biến đấy: Dựa trên lý thuyết kinh tế hoặc dựa trên các nghiên cứu thực nghiệm trước đây? Do vậy, phần phân tích định tính cần phải được đầu tư kỹ lưỡng. Điều này đặc biệt quan trọng với các bạn sinh viên đại học vì: (i)- rèn luyện kỹ năng tư duy nghiên cứu, liên hệ với các lý thuyết đã học; (ii)- kỹ thuật xử lý mô hình ở giai đoạn này của các bạn còn thô sơ nên nếu nghiên cứu định tính không phù hợp sẽ dẫn đến những kết quả định lượng không phản ánh chính xác mối quan hệ thực. Do vậy, nếu các bạn làm nghiên cứu khoa học, yếu tố này nên được quan tâm. Ngoài ra, nên chọn những đề tài ở mức độ hợp lý, tham khảo ý kiến của các thầy cô giáo trước khi quyết định. Và luôn ghi nhớ rằng, bài nghiên cứu hay không hẳn là do sử dụng một công cụ kinh tế lượng mới và phức tạp.

b. Đừng quên đánh giá tính phù hợp của mô hình thông qua các test kiểm định hay các chỉ số đánh giá mô hình.

c. Nếu các kết quả có phần ngược với lý thuyết, bạn cần đưa ra lời giải thích tại sao? Đừng vội kết luận bởi có thể mô hình của bạn không phù hợp. Tương tự, nếu một trong các chỉ số đánh giá mô hình không phù hợp, bạn cần xem lại data, biến liên quan và khắc phục mô hình, hoặc đưa ra lời giải thích cho điều này. Ngay cả khi kết quả phù hợp với lý thuyết, bạn cũng cần sử dụng các test để đảm bảo tính phù hợp mô hình.

d. Bạn cần học và rèn luyện để hiểu ý nghĩa của các kết quả từ phần mềm kinh tế lượng. Sẽ tốt hơn nếu bạn biết “quy trình phần mềm xử lý để có kết quả đấy”. Cái quy trình này chính là “bút chì và giấy” của các nhà kinh tế lượng lý thuyết. Đối với sinh viên đại học, nếu các bạn hiểu rõ được quy trình của phương pháp hồi quy bình phương nhỏ nhất (OLS) cũng đã là rất tốt. Bởi đây là nền tảng để mở rộng xa hơn. Ngày xưa, tôi cũng đã từng nghĩ rằng biết chạy phần mềm mới là quan trọng, nhưng giờ tôi nhận thấy rằng “chạy phần mềm như nấu nồi cơm điện”- học để chạy phần mềm không khó, cái khó nhất là hiểu bản chất kinh tế lượng nằm ẩn sau mô hình đấy. Nếu nắm bản chất này thì bạn sẽ không mất quá lâu để học các phần mềm tích hợp: EVIEW, STATA, SPSS, GRETL,…Tuy nhiên, bạn nên chọn phần mềm nào mà bạn cảm thấy dễ dàng. Cá nhân tôi, những vấn đề phức tạp tôi hay dùng MATLAB hoặc R, với các vấn đề đơn giản đã được tích hợp trong các phần mềm, tôi thường dùng EVIEW cho Macroeconometrics và STATA cho Microeconometrics. Tôi vẫn còn giữ tập ghi chép ngày xưa tôi học đại học, chủ yếu là toán để giải các hồi quy đơn giản bằng OLS, nhưng quả thật nó rất ý nghĩa với tôi. Và cách tôi học kinh tế lượng bây giờ cũng tương tự, dùng giấy và bút chì để giải quy trình có được kết quả – Hàng loạt công thức toán học (nhưng thực chất nếu các bạn làm nhiều các bạn sẽ quen- kiểu toán ứng dụng này- chỉ là những kỹ năng đại số). Sau đó, tôi mới dùng phần mềm đề tìm kết quả cụ thể.

3. Nếu bạn thích nghiên cứu kinh tế, nhưng “ái ngại” kinh tế lượng vì những gì bạn được học dường như quá phức tạp, thì vẫn có nhiều cánh cửa khác cho bạn. Nó không đang sợ đến mức để bạn từ bỏ đam mê của bạn đâu.Tuy nhiên, nếu bạn theo đuổi nghiên cứu, có thể bạn sẽ thích nó, vì việc chạy phần mềm không khó. Đôi lúc nó quá dễ, và chính sự dễ dàng này phần nào đó đã “hủy hoại” một bộ phận giới nghiên cứu kinh tế vì quá phụ thuộc vào kết quả mô hình. Việc bạn dành 5 năm học tiến sĩ (hoặc 2 năm thạc sĩ – 3 năm tiến sĩ) không phải là để học chạy phần mềm mà là học về bản chất của vấn đề kinh tế (nghiên cứu kinh tế học) hoặc/và là học về quy trình dẫn đến kết quả (kinh tế lượng). Và khi đấy, nếu bạn theo kinh tế lượng ứng dụng, thì link ở phần đầu của bài viết này là dành cho bạn.

Tổng kết lại những điều tôi đã đề cập ở trên:

1- Việc biết chạy mô hình hay không ở bậc cử nhân sẽ không thật sự ảnh hưởng nhiều đến con đường nghiên cứu của bạn. Bạn sẽ được học một cách chính thống và đầy đủ ở các chương trình cao hơn. Do vậy, nếu bạn được đào tạo kinh tế lượng ở bậc cử nhân, hãy cố gắng học tốt chương trình bạn đang học, không phân biệt là bạn đang học theo tiếp cận lý thuyết hay tiếp cận ứng dụng. Bởi rèn luyện kỹ năng sẽ luôn có ích cho bạn

2- Rèn luyện kỹ năng Toán, xác suất và thống kê và hiểu rõ các bản chất kinh tế của các nội dung được đề cập ở cả Kinh tế vi mô và vĩ mô.

3- Nếu bạn thích nghiên cứu định lượng, DIY – “Do it yourself”- tận dụng Internet và sách vở để tự học và rèn luyện kỹ năng của mình, để học những cái bạn quan tâm và ứng dụng những cái bạn thích. Tuy nhiên, cố gắng nghiêm túc và thận trọng khi dùng tiếp cận định lượng bởi nó có thể hủy hoại tư duy nghiên cứu của bạn. 

Nguồn: kinhteking.wordpress.com

Tags: ,

Economics

Thống kê kết quả kinh doanh 9 tháng đầu 2013

by finandlife13/11/2013 09:02

Các báo cáo vĩ mô gần đây của chúng tôi cho thấy hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp trong nước đang dần ổn định trở lại đặc biệt nhờ vào hoạt động xuất khẩu và sự hỗ trợ của dòng vốn FDI. Sản lượng và số lượng đơn đặt hàng mới tăng trở lại, tồn kho thành phẩm giảm, doanh nghiệp cũng chủ động hơn trong việc tăng giá bán để đối phó với việc giá cả nguyên vật liệu gia tăng.

Liệu rằng, tình trạng này có xảy ra đối với các doanh nghiệp đang niêm yết? Với số liệu kết quả kinh doanh Quý 3 và 9 tháng đầu năm 2013 của 434 doanh nghiệp niêm yết trên cả hai sàn đã công bố báo cáo hợp nhất Quý 3, thống kê sau đây của chúng tôi sẽ trả lời cho câu hỏi đó:

Tổng doanh thu thuần và lợi nhuận sau thuế của 434 doanh nghiệp quan sát Quý 3/2013 tăng 8.4% và 24.9% so với Quý 3/2012. Luỹ kế 9 tháng đầu năm 2013, tổng doanh thu thuần tăng 9.6%, tổng lợi nhuận tăng 11.8% so với cùng kỳ năm trước

Kết quả thống kê cũng cho thấy, doanh thu tăng trưởng khá nhưng các loại chi phí như chi phí tài chính, chi phí bán hàng & chi phí quản lý doanh nghiệp lại giảm nhẹ so với cùng kỳ làm cho lợi nhuận sau thuế tăng trưởng cao hơn so với tốc độ tăng trưởng của doanh thu và lãi gộp.

Số lượng doanh nghiệp báo lãi tăng nhẹ so với cùng kỳ. Quý 3/2013, có 83.6% doanh nghiệp trong mẫu khảo sát báo lãi, tăng so với 82.3% của Quý 3/2012. Luỹ kế 9 tháng đầu năm 2013, có 81.1% doanh nghiệp báo lãi, tăng so với 80.4% của 9 tháng đầu năm 2012

Kết quả thống kê cũng cho thấy: 52.8% số doanh nghiệp trong mẫu khảo sát cho kết quả lợi nhuận sau thuế Quý 3 tăng trưởng so với cùng kỳ, tăng so với 47.9% của 6 tháng đầu năm 2013. Tuy nhiên, luỹ kế 9 tháng đầu năm, lại chỉ có 47.2% doanh nghiệp trong mẫu khảo sát có lợi nhuận tăng trưởng so với cùng kỳ.

Tổng giá trị lãi của các doanh nghiệp báo lãi Quý 3 và 9 tháng đầu năm tăng lần lượt 11.1% và 11.3% so với cùng kỳ. Trong khi đó, tổng giá trị lỗ của các doanh nghiệp báo lỗ Quý 3 lại giảm mạnh so với cùng kỳ (-55.2%) Tuy nhiên, tổng thua lỗ của các doanh nghiệp báo lỗ 9 tháng đầu năm 2013 vẫn tăng nhẹ.

Sau 9 tháng đầu năm 2013, có 95 doanh nghiệp, tương đương 21.9% số doanh nghiệp trong mẫu khảo sát đã hoàn thành vượt kế hoạch lợi nhuận cả năm 2013. 80 doanh nghiệp (tương đương 18.4% số doanh nghiệp trong mẫu khảo sát) hoàn thành từ 75% đến 100% kế hoạch lợi nhuận. 72 doanh nghiệp (tương đương 16.6%) hoàn thành từ 50% - 75% kế hoạch lợi nhuận. Số doanh nghiệp có tỷ lệ thực hiện so với lợi nhuận dưới 50% chiếm tỷ lệ cao nhất 43.1% với 187 doanh nghiệp.

 

* Điều chỉnh kế hoạch từ lỗ 20 tỷ thành lãi 130 tỷ đồng (31/8/2013)

Tổng tài sản, Tổng nợ và Vốn chủ sở hữu tại thời điểm 30/9/2013 tăng khoảng 8% so với cùng thời điểm năm trước và tăng khoảng 5% so với đầu năm. Trong khi đó, vay nợ của nhóm doanh nghiệp khảo sát chỉ tăng 6.2% so với cùng thời điểm năm trước và 1.3% so với đầu năm. Điều này giúp tỷ lệ vay nợ trên tổng tài sản của mẫu khảo sát giảm từ 29.3% đầu năm xuống chỉ còn 28.2% vào cuối Quý 3 năm 2013.

Tổng Lợi nhuận sau thuế 9 tháng đầu năm 2013 của 10 doanh nghiệp này chiếm đến 67% tổng lợi nhuận sau thuế 9 tháng của mẫu khảo sát (tăng 30.6% so với cùng kỳ). Nếu loại bỏ 10 doanh nghiệp này ra khỏi mẫu khảo sát, tổng lợi nhuận sau thuế 9 tháng của mẫu sụt giảm 13.3% so với cùng kỳ, trong khi tổng doanh thu vẫn tăng 3.6%.

Phân tích chi tiết cho thấy, kết quả kinh doanh có sự phân hoá theo nhóm ngành. Ngành bất động sản và Vật liệu xây dựng có kết quả lợi nhuận 9 tháng 2013 sụt giảm mạnh nhất (-54% và -47%). Các ngành Du lịch & giải trí, bảo hiểm… cũng lợi nhuận giảm do kinh tế suy thoái, nhu cầu sụt giảm. Trong khi đó, một số ngành mang tính phòng thủ như Điện, nước & xăng dầu khí đốt, Hàng cá nhân & gia dụng, y tế… vẫn có được lợi nhuận khả quan. Một số ngành hưởng lợi nhờ chi phí đầu vào giảm như Lốp xe (Ô tô và Phụ tùng) tiếp tục có kết quả tăng trưởng lợi nhuận ổn định. Ngành dịch vụ tài chính – môi giới chứng khoán sau 9 tháng có được lợi nhuận tăng trưởng khả quan nhờ thị trường chứng khoán phục hồi.

Kết quả trên mặc dù có thể còn tồn tại một số đột biến do hạn chế về số liệu quan sát. Tuy nhiên, nhìn chung, kết quả phản ánh khá chính xác tình hình hoạt động của các nhóm ngành, lĩnh vực 9 tháng đầu năm 2013. 

Nguồn: finandlife|VFS Research

Tags:

Economics

Làm gì để thoát nghèo ở Việt Nam?

by finandlife01/11/2013 17:08

Đoạn video clip do Worldbank làm đã miêu tả sự lẩn quẩn của những con người sống trên đất nước Việt Nam. Mãi họ không thoát ra được cái nghèo L

 

Nguồn: finandlife|Worldbank 

Tags:

Economics

Đọc giúp bạn|‘Cuộc chiến’ chống chuyển giá, chuyện giờ mới kể

by finandlife01/11/2013 08:58

 

Trong bối cảnh hụt thu ngân sách ngày càng lớn, việc chấn chỉnh lại công tác thu ngân sách nhằm tránh thất thoát là rất nên làm. Chính vì thế, một số doanh nghiệp làm ăn tốt và khá trong sạch nhưng vì không rõ ràng trong quy định hưởng ưu đãi thuế trước kia (ưu đãi cổ phần hóa, ưu đãi niêm yết lần đầu) vẫn phải chịu truy thu lên đến hàng trăm tỷ đồng. Tuy nhiên, việc làm đó sẽ rất không công bằng nếu nhà nước chỉ đánh vào những doanh nghiệp  “ngoan”, trong khi đó, những đối tượng nổi tiếng về trốn thuế nhờ chuyển giá như các doanh nghiệp FDI lại không liên can. Có lẽ vì thế mà một chiến dịch phát hiện chuyển giá để truy thu thuế với những đối tượng này được thực hiện khá rầm rộ hiện nay. Qua việc làm này, chúng ta (đặc biệt là những người làm kinh tế) có cơ hội hiểu được một số thủ thuật mà các doanh nghiệp FDI đã sử dụng nhằm giảm nghĩa vụ thuế trong thời gian qua.

Bài viết của Phạm Huyền trên Vef.vn

-------------------------------------------------------------------

Các ông lớn quốc tế là những nhà kinh doanh lọc lõi, DN của họ có đội kế toán giỏi, giấy tờ sổ sách đầy đủ và kín kẽ. Bên cạnh họ luôn có một bộ máy tư vấn là các luật sư, chuyên gia tài chính trình độ quốc tế… Vì thế, phát hiện sai phạm đã khó nhưng buộc họ quy thuận càng khó hơn.

Có nhiều sự phi lý dễ nhận thấy trong bức tranh lãi lỗ của FDI song để kết luận đó là chuyển giá thì không dễ chút nào. Phát hiện chuyển giá, đối đầu với những nhà kinh doanh, chuyên gia tư vấn luật, tài chính quốc để buộc những ông lớn thừa nhận vi phạm là cuộc đấu trí kiên trì, đầy khó khăn.

Lần vết: giấu đầu hở đuôi

Sau loạt bài hàng trăm doanh nghiệp FDI chuyển giá được phản ánh trên báo VietnamNet, ông Bùi Văn Nam, Tổng cục trưởng Tổng cục thuế, Bộ Tài chính chia sẻ, có những vụ việc thanh kiểm tra, hồ sơ chuẩn bị phải kéo dài hàng năm trời.

Ông Nam cho biết, để “bắt lỗi” được Tập đoàn dệt may Hualon Coporation, đoàn thanh tra Tổng cục thuế phải huy động mấy nghìn DN dệt may trong nước gửi dữ liệu giá về. Sau đó, phải mất khá nhiều ngày để các cán bộ thanh tra tổng hợp, phân tích để cho ra dữ liệu giá so sánh độc lập. Từ đó mới tìm ra được điểm bất hợp lý, phi thị trường trong giá bán sản phẩm cho công ty liên kết của Hualon.

Từ những dữ liệu ban đầu, cuộc thanh tra mới phát hiện ra vụ chuyển gia của DN này khi mua một dây chuyền thiết bị dệt cũ kỹ, lạc hậu với giá chỉ khoảng 400.000 USD mà nâng khống 40 lần lên 16 triệu USD.

Vị lãnh đạo Tổng cục Thuế nói: “Chúng tôi phải căn cứ trên các định mức về kỹ thuật, các tiêu chuẩn công nghệ để xác định sự bất hợp lý. Cùng 1 máy như vậy, nhập từ các nước G7 giá chỉ có ngần này mà tại sao, anh nhập từ Đài Loan, lại có giá cao vô lý như vậy”.

“Vốn liếng” để các cán bộ thanh tra kiểm tra về chuyển giá bắt bài DN bắt đầu từ những chi tiết giấu đầu hở đuôi tương tự như vậy.

Chẳng hạn như ở vụ chuyển giá của 17 DN Đài Loan chế biến trà ở Lâm Đồng, những tính toán giá đầu ra, đầu vào trái khoáy đã được đoàn thanh tra truy xét tận nơi.

“7 kg chè tươi mới sản xuất ra được 1kg chè khô. Giá thị trường năm đó là 40.000 đồng/kg chè tươi. Tính ra, riêng nguyên liệu cho 1 kg chè khô đã là 280.000 đồng. Vậy cớ sao, các vị DN lại bán cho công ty liên kết giá chè khô chỉ có 140.000 đồng. Có ai đi kinh doanh mà lại mua cao, bán thấp bằng 1 nửa giá thành như thế không?”, ông Nam kể.

Hay như ở vụ việc chuyển giá ngàn tỷ của Keangnam Vina, điểm phí lý là tại sao, khi ngân hàng lãi suất trung bình chỉ có 5-7% mà anh lại đi vay tới 12% từ ngân hàng của Tập đoàn mẹ. Có mấy DN lại đi vay lãi cao để tự mình gây lỗ? Tuy nhiên, ngay sau khi có tin sẽ thanh tra, Tập đoàn này đã chủ động sửa lại.

Theo người đứng đầu ngành thuế, hầu hết DN vi phạm chuyển giá đều không thể biện minh cho bài toán kinh doanh vô lý, kể cả khi họ thuê các luật sư nước ngoài “bào chữa”. Sau khi đấu tranh, các DN đã buộc phải thừa nhận hành vi liên kết, chuyển giá và chấp hành án truy thu thuế.

Con số truy thu có thể lớn hơn nhiều

Ông Nguyễn Quang Tiến, Vụ trưởng, Trưởng ban Cải cách thuế, Tổng Cục thuế - “Tổng quản” chiến dịch chống chuyển giá của DN FDI tiếc nuối: “Đáng lẽ, con số truy thu thuế còn lớn hơn rất nhiều”.

Ông cho biết: “Theo luật, chúng tôi chỉ thanh tra việc thực hiện nghĩa vụ thuế trong thời hạn 5 năm, từ năm 2007 đến nay. Trong khi đó, có những DN đến Việt Nam từ những năm 90 thế kỷ trước, khai lỗ liên tục với số lớn. Vây là, mặc nhiên DN được công nhận hàng chục tỷ báo lỗ từ năm 2006 trở về. Nếu thanh tra thuế giai đoạn trước năm 2006, hẳn số điều chỉnh về giá chuyển nhượng còn cao hơn”.

Bên cạnh đó, các khoản tiền thuế và phạt đều được tính theo tỷ giá USD của thời điểm chuyển giá. Ví dụ, truy thu thuế của năm 2007 thì phải tính theo tỷ giá USD năm 2007, tỷ giá khi đó chỉ mười mấy ngàn đồng. Nếu tính theo tỷ giá hơn 21.000 đồng bây giờ, các DN phải nộp thuế lớn hơn nhiều con số hiện nay”.

Tới đây, ngành thuế sẽ mạnh tay hơn khi đang điều tra chuyển giá ở hơn 40 doanh nghiệp FDI. Cây gậy pháp lý vừa được bổ sung là cơ chế thỏa thuận trước về giá thị trường trong giao dịch liên kết đã được quy định trong Luật sửa đổi Luật Quản lý thuế, có hiệu lực từ 1/7 vừa qua. Theo đó, khi cơ quan thuế đã có thỏa thuận trước về giá thị trường trong giao dịch liên kết, các doanh nghiệp FDI có vi phạm sẽ không thể chối cãi và sẽ phải chịu ấn định giá của cơ quan thuế.

Tuy nhiên, theo ông Tiến, chống chuyển giá đang gặp rất nhiều khó khăn do các hành vi ngày càng phức tạp, tinh vi. Các doanh nghiệp FDI lớn có những công ty tư vấn tài chính uy tín với những chuyên gia về chuyển giá giỏi, kinh nghiệm hỗ trợ.

Trên thế giới, trung bình một cuộc thanh tra chống chuyển giá kéo dài từ 18 tháng đến 24 tháng, đặc biệt có cuộc kéo dài đến 13 năm và không quốc gia nào khống chế thời hạn của một cuộc thanh tra về giá chuyển nhượng nhưng tại Việt Nam, thời gian thanh tra dài nhất cũng chỉ được phép trong 70 ngày, theo Luật Thanh tra.

Việt Nam đã trải thảm đỏ mời gọi đầu tư nước ngoài với hàng loạt chính sách ưu đãi thuế thông thoáng. Trong khi đó, tinh thần tự giác, tự chịu trách nhiệm, khai báo nộp thuế đúng và đầy đủ ở nhiều DN FDI chưa cao. Vì vậy, việc hậu kiểm, chống chuyển giá, chống thất thu ngân sách lại trở thành một nhiệm vụ nặng nề mà ngành thuế phải đảm nhận. Hơn nữa, theo nhiều chuyên gia về thuế, chế tài xử phạt về chuyển giá cần nặng hơn, thay vì chỉ phạt như hành vi kê khai sai thuế hiện nay. 

Nguồn: finandlife|Phạm Huyền, Vef.vn

Tags: , ,

Economics

When small is big

by finandlife31/10/2013 13:56

Có câu nói khá quen thuộc ở Mỹ, “những điều tốt đến từ những gói nhỏ” (good things come in small packages”. Tôi và nhóm của tôi tìm thấy những điều tương tự trong đầu tư, chúng tôi thường tìm kiếm những công ty nhỏ về quy mô nhưng có tiềm năng lớn mạnh trong tương lai.

Những chỉ số ở thị trường đang phát triển thường bị chi phối (dominated) bởi một số ít doanh nghiệp lớn, đặc biệt là những doanh nghiệp của ngành năng lượng, ngân hàng, viễn thông, công nghiệp nặng và khai mỏ. Chính trị hoặc những nhân tố vĩ mô toàn cầu thường ảnh hưởng đến những doanh nghiệp như vậy nhiều hơn cả nền kinh tế nội địa. Nhóm của chúng tôi không dựa trên những quyết định theo mẫu đó- chúng tôi tiếp cận từ dưới lên để tiến hành đầu tư (bottom up approach). Và theo đó, chúng tôi thường tìm kiếm những cơ hội hấp dẫn trong những công ty nhỏ và vừa, những công ty có xu hướng được tìm thấy trong những lĩnh vực công nghiệp nhẹ và tiêu dùng. Nhiều trong số đó phục vụ trong nước hơn những đối tác lớn hơn khác, và do đó có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế một quốc gia hay một thị trường mà chúng hoạt động.

Ảnh hưởng của giới trung lưu (Middle-class influence)

Điển hình, những công ty như vậy tập trung vào người tiêu dùng hơn những công ty lớn hơn, và đó là nhân tố quan trọng dẫn dắt lợi nhuận các công ty ở thị trường đang phát triển. Tầng lớp trung lưu toàn cầu đang tăng trưởng, và điều đó tác động lớn đến hành vi tiêu dùng ở những thị trường đang phát triển. Với nhiều tiền được chi tiêu hơn, nhiều người ở những thị trường đang phát triên đang kêu gọi cho hàng tiêu dùng, từ bia đến quần áo đến điện thoại di động.

Định nghĩa giới trung lưu khác nhau giữa các quốc gia. Dự kiến tầng lớp này sẽ có tốc độ tăng trưởng và quy mô ngày càng lớn trong thời gian tới.

Continue…

 

Nguồn: finandlife|mobius.blog 

Tags:

Economics

AUTOFEED

DISCLAIMER

Blog của HUỲNH NGỌC THƯƠNG, chuyên viên
phân tích đầu tư chuyên nghiệp, hơn 12 năm kinh nghiệm phân tích đầu tư tại thị trường Việt Nam. Blog phục vụ cho mục đích lưu trữ, tham khảo thông tin và chia sẻ góc nhìn cá nhân (không đại diện cho tổ chức nơi tác giả đang làm việc). Tác giả không đảm bảo tính chắc chắn và không chịu trách nhiệm khi người sử dụng thông tin từ website cho hoạt động đầu tư, mua bán chứng khoán của mình.

 

LINKEDIN

Designed by: Nguyễn Chí Hiếu