APC KQKD Q3.17

by finandlife19/10/2017 21:17

Doanh thu thuần đạt 41 tỷ, tăng 41% cùng kỳ. LNST đạt 19 tỷ, tăng 90% cùng kỳ. Tổng kết 3 quý, doanh thu thuần đạt 108 tỷ, đạt 92% kế hoạch năm, LNST đạt 47 tỷ, vượt 37% kế hoạch năm.

Vốn chủ sở hữu tiếp tục tăng 18% so với cuối 2016, trong khi đó, tổng nợ tiếp tục giảm, nợ vay chỉ 4 tỷ đồng. Bản cân đối tài chính ngày càng lành mạnh và sạch sẽ.

Sản lượng xuất khẩu trái cây và thủy sản 3 quý đầu 2017 tăng mạnh làm sản lượng chiếu xạ tăng, cùng với đó, giá chiếu xạ cải thiện đẩy biên lợi nhuận trung bình 55% lên 70%, giúp lợi nhuận của toàn công ty được bẩy lên mạnh mẽ.

EPS ttm đạt 5k đồng, APC đứng đầu ngành, giá cổ phiếu 55k còn rất RẺ. 

FINANDLIFE

Tags:

Stocks

PAC KQKD Q3.17

by finandlife19/10/2017 10:25

Doanh thu thuần đạt 389 tỷ, tăng 25% cùng kỳ. LNST đạt 24 tỷ, giảm 25% cùng kỳ. Tổng kết 3 quý, doanh thu thuần đạt 2,076 tỷ, đạt 75% kế hoạch năm, LNST đạt 101 tỷ, đạt 77% kế hoạch năm.

Nợ tăng mạnh trong khi vốn chủ sở hữu suy giảm làm bản cân đối của PAC bớt đẹp hơn.

Doanh thu tăng nhưng giá vốn chủ yếu là giá các nguyên liệu như chì tăng quá mạnh làm biên lãi gộp giảm mạnh từ trung bình 19% xuống còn 13%, đó là nguyên nhân chính làm lợi nhuận PAC suy giảm trong quý 3.

Nếu không tính tài sản ngầm từ đất đai bất động sản, PAC chỉ đáng giá 27k đồng/cổ phiếu.

 

FINANDLIFE

Tags:

Stocks

VPB KQKD Q3.2017

by finandlife18/10/2017 10:37

Breaking News 3Q17 (PBT +51%y/y). Thẳng thắng mà nói, với 62% vay cá nhân, phần nhiều tín chấp, NPL báo cáo 3.1%, thêm VAMC là 5.4% và thêm nhóm 2 là 11.9%, NPL coverage 35% và loan yield t.binh quá cao ở mức 18%, VPB xì hơi đầu tiên nếu K.Tế sổ mũi. Tiếc rằng, đó ko phải là hoàn cảnh VN lúc này : ) L.suất đầu vào tiếp tục thuận lợi, huy động từ IPO ko những tăng vốn tự có mà còn gián tiếp giúp NIM và cải thiện E/A đáng kể. Tín dụng đc đẩy +29%y/y cùng với l.suất đầu ra vẫn tăng đã giúp VPB có LN cao nhất ở cả số tuyệt đối và tương đối trong top các ngân hàng. Rủi ro tiềm ẩn là nhiều và ROE 29% ko thể bền vững trong dài hạn, nhưng tầm nhìn 1 năm PE 2018 8x và tăng trưởng còn nhiều room để duy trì mức cao, giá có lẽ còn nhiều dư địa.

 

ALPHACHART

Tags:

Stocks

Doanh số xe hơi 9 tháng 2017

by finandlife17/10/2017 21:23

FINANDLIFE

Tags:

Stocks

Đọc giúp bạn|Chênh lệch lãi suất giữa thị trường 1 và 2: ai được hưởng lợi?

by finandlife16/10/2017 09:09

Trong khi LS huy động của các NH từ dân cư và tổ chức kinh tế (thị trường 1) đang có xu hướng tăng lên do các NH đẩy mạnh huy động vốn để dự phòng thanh khoản vào thời điểm cuối năm thì LS vay mượn vốn lẫn nhau giữa các NH (thị trường 2) lại tiếp tục có xu hướng giảm.

Lãi suất huy động kỳ hạn một tháng bình quân hiện ở mức 4,85%/năm còn lãi suất trên thị trường 2 hiện chỉ khoảng 1,5%/năm. Chênh lệch lãi suất (Gap) giữa hai thị trường hiện đã lên tới 3,55%/năm.

Nguyên nhân của tình hình trên là do một khối lượng lớn tiền gửi của Kho bạc Nhà nước (KBNN) tại nhóm các ngân hàng lớn, các ngân hàng cung ứng vốn trên thị trường 2 vẫn đang có xu hướng tăng lên do tiến độ giải ngân nguồn vốn đầu tư công vẫn diễn ra chậm chạp.

Lạ so với các nước nhưng không mới so với chính mình

Như vậy, lãi suất trên thị trường 1 và 2 ở Việt Nam gần như không có mối liên hệ và cũng hoàn toàn không có mối tương quan (correlation) với lãi suất trên thị trường mở (OMO) hiện đang được xem là lãi suất điều hành ở Việt Nam (policy rate). Diễn biến này là trái ngược hoàn toàn với thực tế thị trường tiền tệ của các nước trên thế giới mà nguyên nhân chủ yếu là do vấn đề nợ xấu vẫn chưa được giải quyết triệt để.

Trên thị trường tiền tệ của Mỹ hay Thái Lan, Ngân hàng Trung ương (NHTƯ) các nước này thường có một lãi suất điều hành duy nhất mà thông qua đó NHTƯ có thể can thiệp để điều tiết vào thị trường tiền tệ một cách gián tiếp theo mục tiêu của mình. Lãi suất điều hành ở Mỹ (còn được gọi là Fed fund rate) là lãi suất mà NHTƯ sẽ cho các ngân hàng thương mại vay vốn khi có nhu cầu. Lãi suất vay mượn vốn lẫn nhau giữa các ngân hàng sẽ bám rất chặt với diễn biến của Fed fund rate. Đồng thời, diễn biến của lãi suất trên thị trường 2 cũng sẽ chi phối đến diễn biến lãi suất mà các ngân hàng sẽ dùng để huy động từ dân cư cũng như các tổ chức kinh tế (thị trường 1).

Có thể thấy, ở các nước, lãi suất giữa thị trường 1 và 2 có mối tương quan rất chặt với nhau và cũng rất chặt với diễn biến của lãi suất điều hành của NHTƯ. Khi muốn điều tiết cung và cầu tiền trong nền kinh tế, NHTƯ chỉ cần điều chỉnh lãi suất chính sách. Trong khi đó, ở Việt Nam hiện nay, gần như không có khái niệm về lãi suất chính sách một cách thực chất. Các loại lãi suất như tái cấp vốn (refinancing rate), tái chiết khấu (discount rate) hay lãi suất trên OMO đều không thể phát huy được vai trò là lãi suất chính sách của NHTƯ.

Thực tế trong quá khứ, khi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) thay đổi một trong các loại lãi suất trên thì gần như thị trường chỉ bị tác động tâm lý trong một khoảng thời gian ngắn nhất định. Cụ thể, vào ngày 10-7-2017, NHNN đã điều chỉnh giảm lãi suất tái cấp vốn và tái chiết khấu 0,25%, trong khi lãi suất thị trường 2 có xu hướng giảm thì lãi suất thị trường 1 lại có xu hướng tăng lên.

Kiếm lợi từ sự chênh lệch khác biệt

Với diễn biến hiện tại của thị trường tiền tệ, để tìm kiếm lợi nhuận từ sự chênh lệch này thì về lý thuyết, các ngân hàng trong nước có thể sẽ có các động thái như sau:

Thứ nhất, sẽ vay vốn trên thị trường liên ngân hàng rồi thực hiện nghiệp vụ ủy thác cho các cá nhân hoặc doanh nghiệp để gửi tiền vào các ngân hàng khác.Nếu như trước đây nhiều ngân hàng đã thực hiện nghiệp vụ này thì hiện nay, câu trả lời có lẽ là không, vì hàng loạt tổ chức cũng như cá nhân đã bị xử lý hình sự trong giai đoạn vừa qua vì nghiệp vụ này.

Thứ hai, các ngân hàng sẽ vay vốn trên thị trường 2 để cho vay lại trên thị trường 1.Nếu công tác quản trị rủi ro tốt thì các ngân hàng hoàn toàn có thể thực hiện chiến lược này để tối ưu hóa chi phí huy động vốn của mình. Tuy nhiên, rủi ro về thanh khoản sẽ khiến cho không nhiều ngân hàng dám thực hiện chiến lược này.

Quan sát về số liệu của các ngân hàng thì có thể dễ dàng nhận thấy VPBank, TPBank hay VIBank là những ngân hàng đang chủ động vay vốn trên thị trường 2 để tài trợ cho các nhu cầu của thị trường 1, vì khi chỉ tính hệ số LDR bằng cách lấy dư nợ cho vay trên thị trường 1 chia cho huy động trên thị trường 1 thì kết quả đều lớn hơn 100%.

Hiện nay, các tổ chức tín dụng trung gian như các công ty tài chính, công ty chứng khoán hay các doanh nghiệp có uy tín, có thể vay được nguồn vốn bằng ngoại tệ ở nước ngoài với chi phí thấp chính là những đối tượng đang được hưởng lợi nhiều nhất khi chênh lệch lãi suất giữa hai thị trường 1 và 2 tăng lên. Các công ty tài chính hay chứng khoán với đặc thù là không được huy động nguồn vốn ngắn hạn từ dân cư, do vậy, họ sẽ vay vốn với chi phí thấp từ các ngân hàng để tài trợ cho nhu cầu vốn của khách hàng. Với đặc thù là thời gian vay vốn ngắn, đặc biệt là của các công ty chứng khoán, nên việc quản trị rủi ro về thanh khoản là tương đối dễ dàng. Đây là cơ sở phần nào giải thích cho kết quả kinh doanh rất ấn tượng của các công ty chứng khoán trong thời gian vừa qua cũng như dự báo cho cả thời gian tới.

Còn đối với các doanh nghiệp lớn, khi họ có được nguồn vốn bằng ngoại tệ thì có thể thực hiện việc bán ngoại tệ cho các ngân hàng lấy tiền đồng để gửi vào các ngân hàng nhằm tìm kiếm chênh lệch về lãi suất. Trong bối cảnh điểm hoán đổi ngoại tệ (swap point)* duy trì ở mức âm trong một thời gian dài vừa qua thì gần như các doanh nghiệp sẽ không phải đối mặt với rủi ro tỷ giá.

* swap point= tỷ giá kỳ hạn – tỷ giá giao ngay

 

Hoàng Ngọc Khanh

Tags:

Economics

AUTOFEED

DISCLAIMER

Blog này phục vụ cho mục đích lưu trữ, tham khảo thông tin và thảo luận. Chúng tôi không đảm bảo tính chắc chắn và không chịu trách nhiệm khi người sử dụng thông tin từ website cho hoạt động đầu tư, mua bán chứng khoán của mình.

Designed by: Nguyễn Chí Hiếu