Buffet - Người kiếm tiền vĩ đại nhất thế giới (BBC)

by finandlife15/08/2013 08:31

Tags:

Economics

Đọc giúp bạn| Thâm hụt ngân sách – Do đâu?

by finandlife12/08/2013 09:14

Bài viết của Nguyễn Việt Phong trên TBKTSG ngày 08/08/2013 cho chúng ta thấy rõ căn nguyên của thâm hụt ngân sách – một nhân tố được nhắc đi nhắc lại liên tục như một căn bệnh của Nhà nước trong thời gian qua.

Theo đó, nguồn thu đóng góp chủ yếu vào ngân sách có sự dịch chuyển từ thu dầu thô và xuất nhập khẩu sang thu nội địa, đến 2013, nguồn thu nội địa chiếm đến gần 70% cơ cấu nguồn thu. Trong khi đó, cơ cấu chi ngân sách lại dịch chuyển theo hướng chi thường xuyên nhiều hơn so với chi đầu tư phát triển.

 

 

§     Thu nội địa gồm: thu doanh nghiệp, thuế, phí, lệ phí, nhà đất…

§     Chi thường xuyên gồm các khoản chi nhằm duy trì hoạt động thường xuyên của nhà nước

§     Nhóm chi đầu tư phát triển là các khoản chi dài hạn nhằm làm tăng cơ sở vật chất của đất nước và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

§     Nhóm chi trả nợ và viện trợ bao gồm các khoản chi để nhà nước thực hiện nghĩa vụ trả nợ các khoản đã vay trong nước, vay nước ngoài khi đến hạn và các khoản chi làm nghĩa vụ quốc tế;

§     Nhóm chi dự trữ là những khoản chi ngân sách nhà nước để bổ sung quỹ dự trữ nhà nước và quỹ dự trữ tài chính.

Một đặc điểm quan trọng khác, khi nhìn vào chi cho hoạt động trả nợ so với chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên, ta thấy chi trả nợ trở thành một khoản chi rất lớn, đơn cử, năm 2013, dự toán thâm hụt ngân sách là 160 ngàn tỷ, thì trong đó, chi trả nợ đã lên đến 100 ngàn tỷ.

 

 

Trong phần kết luận, tác giả nêu quan điểm, việc chi thường xuyên ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong tổng chi, trong khi đó, chi đầu tư phát triển lại chiếm tỷ trọng thấp cho thấy, sự thiếu bền vững trong mô hình tăng trưởng kinh tế. Tiếp theo đó, tác giả đề xuất “nên học hỏi cách làm của Trung Quốc hiện nay”, giảm chi thường xuyên, tăng chi cho đầu tư phát triển bằng cách“hạn chế tối đa những hoạt động chi cụ thể như chi xây mới trụ sở văn phòng Chính phủ”…

Nguồn: finandlife|TBKTSG

Tags:

Economics

Dữ liệu vĩ mô tháng 07/2013

by finandlife11/08/2013 18:01

1.       Chỉ báo kinh tế chính một số nước lớn:

Mỹ, Nhật Bản vẫn tỏ ra đúng hướng trên con đường phục hồi kinh tế. Trong khi đó, Châu Âu vẫn còn khá mong manh và Trung Quốc thì lại cho thấy một bức tranh trái ngược, nền kinh tế bắt đầu thu hẹp, niềm tin tiêu dùng suy giảm, sản xuất dự kiến sẽ còn khó khăn.

Mỹ

Consumer Confidence

Consumer Confidence in the United States decreased to 80.30 in July of 2013 from 82.10 in June of 2013. Consumer Confidence in the United States is reported by the The Conference Board. The United States Consumer Confidence averaged 93.67 from 1967 until 2013, reaching an all time high of 144.70 in May of 2000 and a record low of 25.30 in February of 2009. In the United States, The Conference Board Consumer Confidence Index® (CCI) is a barometer of the health of the U.S. economy from the perspective of the consumer. The index is based on approximately 3,000 completed questionnaires reflecting consumers’ perceptions of current business and employment conditions, as well as their expectations for six months hence regarding business conditions, employment, and income. The Conference Board® and Consumer Confidence Index® are registered trademarks of The Conference Board. The Consumer Confidence Index and its related series are among the earliest sets of economic indicators available each month and are closely watched as leading indicators for the U.S. economy. This page contains - United States Consumer Confidence - actual values, historical data, forecast, chart, statistics, economic calendar and news. 

PMI

PMI của Mỹ đang cho thấy nền kinh tế đang phục hồi.

Industrial Production

Industrial Production in the United States increased 2 percent in June of 2013 over the same month in the previous year. Industrial Production in the United States is reported by the Federal Reserve. The United States Industrial Production averaged 3.91 Percent from 1920 until 2013, reaching an all time high of 62.00 Percent in July of 1933 and a record low of -33.70 Percent in February of 1946. In the United States, industrial production measures the output of businesses integrated in industrial sector of the economy such as manufacturing, mining, and utilities. This page contains - United States Industrial Production - actual values, historical data, forecast, chart, statistics, economic calendar and news.

Euro area

Consumer Confidence 

Consumer Confidence In the Euro Area increased to -17.40 in July of 2013 from -18.80 in June of 2013. Consumer Confidence In the Euro Area is reported by the European Commission. Euro Area Consumer Confidence averaged -12.67 from 1985 until 2013, reaching an all time high of 2.70 in May of 2000 and a record low of -34.20 in March of 2009. in the Euro Area, the Consumer Economic Sentiment Indicator measures the level of optimism that consumers have about the economy. The survey is made by phone and covers 23 000 households in the Euro Area. The number of households sample varies across the zone. The questions focus on current economic and financial situation, savings intention as well as on expected developments regarding: consumer price indexes, general economic situation and major purchases of durable goods. The Consumer ESI measures consumer confidence on a scale of -100 to 100, where -100 indicate extreme lack of confidence, 0 neutrality and 100 extreme confidence. This page contains - Euro Area Consumer Confidence - actual values, historical data, forecast, chart, statistics, economic calendar and news. 

PMI

PMI của Châu Âu đang cho thấy nền kinh tế đang phục hồi “mong manh”.

Industrial Production

Industrial Production In the Euro Area decreased 0.60 percent in April of 2013 over the same month in the previous year. Industrial Production In the Euro Area is reported by the Eurostat. Euro Area Industrial Production averaged 0.88 Percent from 1991 until 2013, reaching an all time high of 9.80 Percent in May of 2010 and a record low of -21.40 Percent in April of 2009. in the Euro Area, industrial production measures the output of businesses integrated in industrial sector of the economy such as manufacturing, mining, and utilities. This page contains - Euro Area Industrial Production - actual values, historical data, forecast, chart, statistics, economic calendar and news.

 

Nhật Bản

Consumer Confidence

Consumer Confidence in Japan decreased to 43.60 in July of 2013 from 44.30 in June of 2013. Consumer Confidence in Japan is reported by the the Cabinet Office. Japan Consumer Confidence averaged 42.36 from 1982 until 2013, reaching an all time high of 50.80 in December of 1988 and a record low of 27.40 in January of 2009. In Japan, the Monthly Consumer Confidence survey data is collected by direct visit and covers about 4,700 households consisting of more than two persons. The questionnaire covers four subjects: consumer perceptions of overall livelihood, income growth, employment and willingness to buy durable goods. For each subject an index based on the respondents’ evaluation of what they consider the prospects to be over the next six months is created. The Consumer Confidence Index is the simple average of the four consumer perception indexes. A score above 50 indicates optimism, below 50 shows lack of confidence and 50 indicates neutrality. This page contains - Japan Consumer Confidence - actual values, historical data, forecast, chart, statistics, economic calendar and news.

PMI

PMI của Nhật Bản đang cho thấy nền kinh tế đang phục hồi.

Industrial Production

Industrial Production in Japan decreased 4.80 percent in June of 2013 over the same month in the previous year. Industrial Production in Japan is reported by the Ministry of Economy Trade & Industry. Japan Industrial Production averaged 1.44 Percent from 1979 until 2013, reaching an all time high of 33.10 Percent in February of 2010 and a record low of -38.60 Percent in February of 2009. In Japan, industrial production measures the output of businesses integrated in industrial sector of the economy such as manufacturing, mining, and utilities. This page contains - Japan Industrial Production - actual values, historical data, forecast, chart, statistics, economic calendar and news.

Trung Quốc

Consumer Confidence 

Consumer Confidence in China decreased to 97 in June of 2013 from 99 in May of 2013. Consumer Confidence in China is reported by the National Bureau of Statistics of China. China Consumer Confidence averaged 110.14 from 1991 until 2013, reaching an all time high of 124.60 in September of 1993 and a record low of 97 in November of 2011. In China, the consumer confidence index is based on a survey of 700 individuals over 15 years old from 20 cities all over the country. This composite index covers the consumer expectation and consumer satisfaction index, thus measures the consumers' degree of satisfaction about the current economic situation and expectation on the future economic trend. The Index measures consumer confidence on a scale of 0 to 200, where 200 indicate extreme optimism, 0 extreme pessimism and 100 neutrality. This page contains - China Consumer Confidence - actual values, historical data, forecast, chart, statistics, economic calendar and news.

PMI

PMI của Trung Quốc đang cho thấy nền kinh tế đang có vấn đề. Theo thống kê của Tổng Cục Thống Kê Trung Quốc thì mọi chuyện vẫn ổn, tuy nhiên số liệu do HSBC khảo sát lại cho thấy nền kinh tế Trung Hoa đang đi xuống.

Industrial Production

Industrial Production in China increased 8.90 percent in June of 2013 over the same month in the previous year. Industrial Production in China is reported by the National Bureau of Statistics of China. China Industrial Production averaged 13.26 Percent from 1990 until 2013, reaching an all time high of 29.40 Percent in August of 1994 and a record low of -21.10 Percent in January of 1990. In China, industrial production measures the output of businesses integrated in industrial sector of the economy such as manufacturing, mining, and utilities. This page contains - China Industrial Production - actual values, historical data, forecast, chart, statistics, economic calendar and news.

2.       Dữ liệu kinh tế vĩ mô của Việt Nam

Việt Nam đang từng bước phục hồi, mặc dù rất chậm.

 

Ngày 11/09/2013

 

Tuần này The Economist bắt đầu một series 5 bài tổng kết về cuộc khủng hoảng tài chính vừa qua. Bài đầu tiên phân tích những nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng rất chi tiết và đầy đủ. Highly recommended! (TS. Lê Hồng Giang)

Nguồn: finandlife|tradingeconomics

Tags:

VietnamData | Month

Kỳ 1: NVDR (Non-Voting Depositary Receipt)

by finandlife09/08/2013 09:38

Chúng tôi đang nghiên cứu chi tiết về NVDR (Non-Voting Depositary Receipt). Dự kiến, chúng tôi sẽ công bố trong vài ngày tới. Trước hết tôi xin đưa thông tin Sở Giao Dịch Chứng Khoán đang dự kiến áp dụng sản phẩm NVDR lên đây, để mọi người đọc qua và có ý niệm về NVDR, tại sao lại phải nghiên cứu về NVDR. Bài viết trên ĐTCK.

----------------------------------------------------

Cổ phiếu không có quyền biểu quyết đòi hỏi doanh nghiệp phải phát hành thêm cổ phiếu. Như vậy, trong trường hợp NĐT nước ngoài mong muốn tăng sở hữu, nhưng DN không có nhu cầu huy động vốn thêm, hoặc không đủ điều kiện phát hành, phương án này sẽ bị bế tắc. Trong khi đó, NVDR lại không liên quan gì đến việc phát hành của DN. Đơn giản là, khi tỷ lệ sở hữu NĐT nước ngoài chạm mức tối đa, nếu muốn tăng sở hữu, thì họ mua NVDR của cổ phiếu đó. NĐT sở hữu NVDR được hưởng mọi quyền lợi tài chính của cổ phiếu (như cổ tức, quyền tăng vốn…), chỉ không hưởng quyền biểu quyết. NVDR sẽ do một công ty 100% vốn thuộc HOSE phát hành.

Quy trình giao dịch NVDR không hề phức tạp. Tôi lấy ví dụ, nếu NĐT giao dịch cổ phiếu đã hết room, thay vì đặt lệnh mua như bình thường, họ sẽ đánh dấu thêm một ký hiệu vào phiếu lệnh để phân biệt là lệnh mua NVDR trên cổ phiếu đó. Lệnh mua NVDR được đi vào sổ lệnh và so khớp với các lệnh mua bán cổ phiếu khác. Như thế, khi lệnh mua cổ phiếu (NVDR) được khớp lệnh, cổ phiếu sẽ được ghi danh sở hữu là công ty phát hành NVDR, đồng thời, NĐT được ghi nhận sở hữu lượng NVDR tương đương số cổ phiếu này. Việc này sẽ khiến giao dịch NĐT đơn giản, không phải phân biệt khác nhau giữa giao dịch cổ phiếu và giao dịch NVDR. Sự khác nhau duy nhất giữa quá trình mua cổ phiếu phổ thông và mua NVDR là khâu thanh toán và lưu ký mà thôi.

Tương tự đối với giao dịch bán, trong trường hợp còn room, NĐT nước ngoài có thể chuyển đổi NVDR thành cổ phiếu phổ thông có quyền biểu quyết.

Theo kinh nghiệm của Thái Lan, số cổ phiếu hoán đổi NVDR sẽ do công ty phát hành NVDR thuộc Sở GDCK nắm giữ và có quyền biểu quyết. Quyền biểu quyết tại cuộc họp ĐHCĐ của số cổ phiếu nói trên sẽ không phân phối cho NĐT sở hữu NVDR và công ty phát hành NVDR cũng sẽ không tham dự ĐHCĐ.

PV: Nhưng việc NĐT sở hữu NVDR không tham dự ĐHCĐ liệu có thể dẫn tới tình trạng DN không tổ chức thành công cuộc họp ĐHCĐ thường niên, hoặc tỷ lệ bỏ phiếu giữa NĐT trong nước và nước ngoài bị thay đổi tương quan. Ví dụ, 10% số cổ phần chuyển đổi thành NVDR, thì tỷ lệ bỏ phiếu còn lại là 49% vốn điều lệ cho NĐT nước ngoài, 41% cho NĐT trong nước. Sở sẽ làm gì để khắc phục được nguy cơ này?

Cũng có ý kiến cho rằng, việc hủy bỏ quyền biểu quyết một lượng cổ phiếu lớn có thể dẫn tới tăng tỷ lệ bỏ phiếu của NĐT ngoại, nhưng chúng tôi cho rằng, khi hủy quyền biểu quyết thì tỷ lệ phiếu biểu quyết của các bên đều tăng lên tương ứng, không ảnh hưởng nhiều.

Trong giai đoạn đầu triển khai NVDR, chúng ta có thể lựa chọn quy định mức tối đa cho NVDR, ví dụ là 20% số cổ phần có quyền biểu quyết.

Giao dịch NVDR sẽ được công bố công khai hàng ngày trên bản tin giao dịch của Sở. Đồng thời, NĐT sở hữu đến 5% vốn cổ phần của một DN, tính cả NVDR và cổ phiếu phổ thông, sẽ phải công bố thông tin sở hữu cổ đông lớn. Khi sở hữu mức chạm ngưỡng 25% cũng sẽ phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công bố thông tin, chào mua công khai.

Nguồn: finandlife|ĐTCK

Tags:

Economics

Phân tích và khuyến nghị BTP (Cổ phiếu Cty Nhiệt Điện Bà Rịa)

by finandlife06/08/2013 20:41

 

Kế tiếp bài viết,
BTP - Cổ phiếu đột biến đến từ thay đổi cách hoạch toán kế toán, chúng tôi xin gởi đến bài khuyến nghị chi tiết từ VFS Research.

Công ty Cổ phần Nhiệt Điện Bà Rịa (BTP) không những tạo ra những con sóng lớn về giá trên thị trường mà còn có sự thay đổi mạnh mẽ trong báo cáo kết quả kinh doanh năm 2012 và 6 tháng đầu năm 2013. Tuy nhiên, khi đi sâu vào phân tích, chúng tôi nhận thấy sự thay đổi này chủ yếu đến từ việc thay đổi chính sách hạch toán kế toán chứ không đến từ sự cải thiện hoạt động sản xuất kinh doanh. Nhiên liệu đầu vào không thật sự ổn định là nguyên nhân chính dẫn đến sản lượng sản xuất và doanh thu thuần của công ty “bấp bênh”. Trong khi đó, việc giá bán phụ thuộc quá nhiều vào công ty mẹ EVN khiến BTP khó cải thiện biên lợi nhuận.

Ngoài ra, theo tính toán của chúng tôi, P/E forward 2013 của BTP ở mức 11.2 lần, khá cao so với định giá của PPC. Không những thế, BTP cũng đã chốt quyền chi trả cổ tức bằng tiền mặt 11% vào ngày hôm nay, nên rất có thể không còn hiệu ứng ngày chốt quyền nào nữa trong thời gian gần tới.

Với tất cả yếu tố trên, chúng tôi cho rằng “BTP sẽ khó tạo thêm những con sóng tăng lớn như cổ phiếu này đã từng làm được vào cuối 2012 đầu 2013”.

-----------------------------------------------------------

Hưởng lợi nhờ phương pháp hạch toán mới

Năm 2000, để thực hiện dự án Đuôi Hơi 306-2 Nhà Máy Nhiệt Điện Bà Rịa, BTP phải vay khoảng 50 tỷ Won từ nguồn vốn vay quỹ hợp tác phát triển kinh tế Hàn Quốc – EDCF. Trước năm 2012, công ty hạch toán số dư ngoại tệ khoản vay này theo tỷ giá Xuất nhập khẩu. Do đồng Won ít được giao dịch trên thị trường nên tỷ giá này chênh lệch khá cao so với tỷ giá thực tế tại ngân hàng thương mại. Dẫn đến việc mỗi năm BTP phải ghi nhận một khoản không nhỏ lỗ từ chênh lệch tỷ giá.

Tuy nhiên, từ ngày 24/10/2012, Bộ Tài Chính đã ban hành Thông tư 179/2012/TT-BTC quy định lại về việc ghi nhận, đánh giá, xử lý các khoản chênh lệch tỷ giá hối đoái. Theo đó, năm 2012, thay vì phải hạch toán số dư ngoại tệ của khoản vay đồng Won theo tỷ giá xuất nhập khẩu (khoảng 19.41 VNĐ/Won), BTP chỉ phải hạch toán theo tỷ giá mua tại ngân hàng thương mại (khoảng 17.74 VNĐ/Won). Cùng với việc tỷ giá đồng Won trong năm ít biến động, công ty đã không còn phải ghi nhận lỗ do chênh lệch tỷ giá. Điều này giúp công ty tiết giảm hơn 102 tỷ đồng chi phí tài chính so với năm 2011.

Đây là nguyên nhân chủ yếu giúp lợi nhuận sau thuế năm qua của công ty tăng trưởng đột biến (+116%) mặc dù doanh thu thuần có sự sụt giảm mạnh (-40%) do sản lượng điện tiêu thụ giảm.

Lợi nhuận 6 tháng 2013 tiếp tục khả quan

Đầu năm 2013, công suất và sản lượng tiêu thụ của BTP gia tăng nhờ quyết định điều chuyển nhiên liệu khí thấp áp cấp cho các hộ công nghiệp sang cho BTP của PVN. Điều này giúp cho doanh thu thuần 6 tháng đầu năm 2013 của công ty đạt 791 tỷ đồng, tăng 19% so với cùng kỳ, hoàn thành 45% kế hoạch doanh thu cả năm.

Trong khi đó, việc đồng Won liên tục mất giá so với USD và cả VNĐ (có thời điểm giảm giá 8% so với đầu năm) giúp công ty ghi nhận gần 33 tỷ đồng lãi chênh lệch tỷ giá, đẩy lợi nhuận sau thuế lên hơn 70 tỷ đồng, tăng 25% so với cùng kỳ và vượt 30% kế hoạch lợi nhuận cả năm 2013.

Kế hoạch 2013 thận trọng

Năm 2013, với sản lượng điện tiêu thụ dự báo tăng, công ty đặt kế hoạch doanh thu 1,739 tỷ đồng, tăng 22% so với thực hiện năm 2012. Tuy nhiên kế hoạch lợi nhuận sau thuế lại chỉ có 53.8 tỷ đồng, thấp hơn 60% so với thực hiện năm 2012.

Với kết quả kinh doanh 6 tháng đầu năm khả quan, chúng tôi cho rằng, công ty sẽ hoàn thành kế hoạch doanh thu và vượt mạnh kế hoạch lợi nhuận nhờ tỷ giá đồng Won tiếp tục diễn biến thuận lợi.

Sản lượng điện sản xuất không ổn định 

Nguồn nguyên liệu chính để vận hành nhà máy của BTP là nhiên liệu khí đồng hành được PVGas cung cấp từ mỏ Cửu Long và nhiên liệu dự phòng là dầu DO. Nếu lượng khí Cửu Long suy giảm (ưu tiên hàng đầu là cung cấp cho nhà máy Đạm Phú Mỹ), công ty phải sử dụng dầu DO với chi phí rất cao.

Hiện tại sản lượng khí thu gom tại mỏ Cửu Long mỗi năm không ổn định và đang suy giảm, ảnh hưởng rất nhiều đến nguồn nhiên liệu đầu vào và sản lượng điện sản xuất của công ty. Trong trường hợp không còn khí Cửu Long, công ty mới được sử dụng khí Nam Côn Sơn theo hợp đồng đã ký với PVGas.

Sản lượng khí không đủ lại không được ưu tiên, có thể thấy BTP khá bị động đối với nguồn nguyên liệu đầu vào, điều đó lý giải phần nào doanh thu của BTP khá “bấp bênh” khi mà sản lượng điện hàng năm không ổn định, đặc biệt từ năm 2010 tới nay.

Từ tháng 3/2011 giá khí PVGas bán cho các nhà máy điện dần đi vào ổn định theo cơ chế tăng 4%/năm và kể từ tháng 3/2016 trở đi sẽ chỉ tăng 2%/năm. Việc giá khí được tăng theo lộ trình như vậy sẽ giúp BTP chủ động hơn trong việc cân đối chi phí đầu vào, bên cạnh đó EVN cũng cam kết sẽ mua điện với giá hợp lý để BTP luôn có lãi.

Hết khấu hao tài sản cố định sau năm 2014

Trung bình mỗi năm, chi phí khấu hao của BTP chiếm khoảng 13% tổng chi phí sản xuất. Với giá trị tài sản cố định còn lại của công ty vào thời điểm cuối năm 2012 khoảng 358 tỷ đồng, chi phí khấu hao mỗi năm khoảng 165 tỷ đồng (BTP trích khấu hao tài sản cố định theo phương pháp đường thẳng), về cơ bản tài sản cố định của BTP sẽ hết khấu hao sau năm 2014.

Điều này sẽ giúp BTP tiết giảm đáng kể chi phí giá thành sản xuất. Tuy nhiên, trao đổi với lãnh đạo công ty được biết, khi nhà máy hết khấu hao, việc đàm phán tăng giá bán điện của công ty cho EVN sẽ khó khăn hơn. Do đó, khả năng công ty cải thiện mạnh biên lợi nhuận sau khi hết khấu hao là không nhiều.

Dư tiền cải thiện, áp lực lãi vay không lớn

Nợ vay của BTP hiện tại chủ yếu là khoản vay dài hạn bằng đồng Won, chiếm 70% tổng nợ. Thời hạn vay 27 năm, bắt đầu từ năm 2001 (trong đó 7 năm đầu ân hạn chưa phải trả gốc). Hiện tại mỗi năm BTP phải trả khoảng 2.5 triệu Won nợ gốc (50 tỷ đồng) và lãi suất chỉ khoảng 2.2%/năm. Do đó, áp lực lãi vay của BTP là tương đối thấp.

Trong khi đó, các khoản phải thu của công ty đang giảm dần do thu được tiền từ EVN, đẩy lượng tiền mặt tăng dần, cải thiện khả năng thanh toán.

Cổ tức tiền mặt khá hấp dẫn

Lợi nhuận và dòng tiền cải thiện giúp công ty gia tăng mức cổ tức chi trả cho cổ đông những năm gần đây. Năm 2010, công ty chi trả 3% cổ tức bằng tiền mặt. Năm 2011, mức cổ tức tăng lên 7%. Năm 2012, cổ tức kế hoạch của công ty là 8%, tuy nhiên với lợi nhuận đột biến, công ty đã quyết định chi trả 11% cổ tức bằng tiền mặt cho năm 2012, tương ứng với mức DIY (so với giá ngày 6/8) là 7.7%, khá hấp dẫn so với lãi suất tiền gửi hiện tại.

Với quy định không được chi trả cổ tức từ các khoản chênh lệch tỷ giá chưa thực hiện. Chúng tôi cho rằng, năm 2013, công ty sẽ giữ nguyên mức chi trả cổ tức 11% của năm 2012 (kế hoạch 8%).

Định giá

Trên cơ sở kết quả kinh doanh 6 tháng đầu năm, chúng tôi cho rằng cả năm BTP sẽ đạt khoảng 70 – 80 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế (không tính đến các khoản lãi lỗ tỷ giá chưa thực hiện), tương ứng với mức EPS Forward khoảng 1,265 đồng. Với mức giá đóng cửa ngày 6/8/2013, BTP đang giao dịch ở mức PE Forward khoảng 11.2 lần khá cao so với định giá của PPC và tương đương với nhiệt điện Ninh Bình.

Nguồn: Mr Thành|VFS Research

Tags:

Stocks

AUTOFEED

DISCLAIMER

Blog này phục vụ cho mục đích lưu trữ, tham khảo thông tin và thảo luận. Chúng tôi không đảm bảo tính chắc chắn và không chịu trách nhiệm khi người sử dụng thông tin từ website cho hoạt động đầu tư, mua bán chứng khoán của mình.

Designed by: Nguyễn Chí Hiếu