TIE thoái vốn tại SAMSUNG VINA, kết cục của một liên doanh!

by finandlife27/09/2013 09:44

 

Sau gần 20 năm kể từ lúc TIE là đại diện phần vốn nhà nước Việt Nam liên doanh với SAMSUNG. Ngày liên doanh được thành lập cũng là ngày mà bao nhiêu kỳ vọng về việc học tập và phát triển tương lai điện tử nước nhà được nhen nhóm. Thế nhưng sau 20 năm “kết hôn”, 2 bên vẫn chưa có với nhau “mụn con” nào, và đành nói lời chia tay với 1 ít của bố thí.

TIE đến với SAMSUNG VINA không khác gì một tay đầu tư tài chính. Hầu hết lợi nhuận hàng năm TIE nhận được đều đến từ lợi nhuận được chia bởi liên doanh, trong khi đó hoạt động sản xuất, kinh doanh của riêng công ty thì vô cùng nghèo nàn. (Hình 1 cho thấy, vai trò của doanh thu tài chính ngày càng lớn trong đóng góp vào hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty).

 

Nếu loại lợi nhuận tài chính (trong đó chủ yếu là lợi nhuận từ liên doanh) ra khoản lợi nhuận trước thuế của TIE, thì Công ty thường xuyên lâm vào cảnh lỗ lã (năm 2011 lỗ trước thuế là 7.3 tỷ đồng, năm 2012 mức lỗ lên đến 19.3 tỷ đồng). Đây là bức tranh hoàn toàn trái ngược với con số lợi nhuận trước thuế 30 tỷ đồng và cổ tức thực chia 1,500 đồng mà TIE báo cáo và thực hiện những năm qua.

Một điểm khác cũng rất đáng quan tâm là chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp có xu hướng tăng rất nhanh những năm gần đây trong khi đó, doanh thu lại không tăng trưởng tương ứng. Thông thường đây là biểu hiện của sự kém hiệu quả, hoặc Công ty đang theo đuổi chiến lược R&D lớn, nhưng theo những thông tin được công bố, dường như không có công cuộc R&D nào cả.

Những số liệu ở trên nói lên điều gì? Dòng tiền nuôi sống TIE trong những năm qua chủ yếu đến từ lợi nhuận được chia từ liên doanh SAMSUNG VINA. Công ty không tự xây dựng riêng cho mình mô hình kinh doanh vượt trội nào. TIE chỉ dám đi con đường ngắn hạn, dễ ăn và ít tốn chất xám nhất là phân phối, mà không dám đầu tư, dấn thân vào lĩnh vực sản xuất, nghiên cứu, doanh thu bán hàng hóa chiếm 90% trong cơ cấu doanh thu thuần nhưng biên lãi gộp chỉ là 4% đã cho thấy điều này. Như vậy, bao nhiêu kỳ vọng học hỏi công nghệ, kỹ thuật… ban đầu đã trở nên công cốc.

Tất cả sự việc là thế, nhưng ngay khi có thông tin SAMSUNG mẹ chấp nhận bỏ ra 96 tỷ để mua lại phần vốn của TIE trong liên doanh thì lập tức nhà đầu tư đã phản ứng tích cực. Giá cổ phiếu đã tăng 17% chỉ trong ba phiên giao dịch quanh ngày công bố thông tin. Nhưng liệu đây có phải là thông tin thật sự tích cực?

TIE sẽ nhận được 96 tỷ đồng trong khi thời hạn liên doanh còn lại chỉ là 1 năm rưỡi và giá trị sổ sách của khoản vốn góp chỉ là 53.6 tỷ đồng. Trong bối cảnh nền kinh tế đang thiếu tiền, đây là số tiền có vẻ ấn tượng!

Tôi chưa được đọc hợp đồng liên doanh (TIE không công bố thông tin này) nên còn nhiều cái chưa thật sự tường tận, nhưng theo tôi thì:

Thứ 1, việc TIE góp 20% vốn vào liên doanh, đã được TIE thu về khá nhiều, thông qua lợi nhuận liên doanh được chia hàng năm. Do vậy, giá trị sổ sách 53.6 tỷ kia cũng chỉ là giá trị sổ sách ghi nhận ban đầu khi góp vốn, chứ giá trị còn lại không còn nhiều đến thế. Vì đất đai thuộc sở hữu nhà nước, TIE chỉ được giao đất có thời hạn nhất định, và do đó, sau mấy chục năm sử dụng, giá trị quyền sử dụng đất còn lại đã giảm đi đáng kể.

 

Thứ 2, Lợi nhuận được chia từ liên doanh lên đến 50 tỷ đồng năm 2012. Với tốc độ tăng trưởng trung bình >20%/năm, lợi nhuận trong gần 1 năm rưỡi còn lại cũng lên đến hơn 90 tỷ đồng (cụ thể xem hình 2). Đây là khoản lợi nhuận đáng lý ra TIE sẽ được hưởng nếu không bán lại phần vốn liên doanh cho SAMSUNG mẹ. Do đó, đây cũng là cái giá hợp lý chứ không hời như nhiều nhà đầu tư trên sàn vẫn nghĩ. Thêm vào đó, lợi nhuận từ liên doanh không phải đóng thêm thuế (vì đã được Công ty liên doanh đóng thuế), trong khi đó, khoản lợi nhuận do bán phần vốn lại được hoạch toán vào lợi nhuận bất thường, TIE phải có nghĩa vụ đóng thuế trên khoản lợi nhuận này, nên giá trị mà TIE có khả năng sử dụng chỉ khoảng 85 tỷ đồng, chứ không phải 96 tỷ đồng như nhiều người nhìn vào (cụ thể xem bảng tính bên dưới).

Bảng tính khoản thuế thu nhập phải trả (đồng)

Giá chuyển nhượng

96,150,464,919

Giá sổ sách

53,665,056,000

Lãi trước thuế

42,485,408,919

Thuế (25%)

10,621,352,230

Lãi sau thuế

31,864,056,689

 

Một phóng viên trên báo Sài Gòn Tiếp Thị đã từng hỏi người đứng đầu TIE, sau khi kết thúc liên doanh, công ty có kế hoạch kinh doanh gì trong thời gian tới? Lãnh đạo doanh nghiệp cho biết, công ty đã có tính toán “cụ tỉ”, nhưng đây là bí mật. TIE là một doanh nghiệp đại chúng, niêm yết, do vậy việc công bố thông tin và minh bạch thông tin là cực kỳ quan trọng, đặc biệt với thông tin về sử dụng vốn và chiến lược kinh doanh thì càng phải giải thích thấu đáo cho cổ đông nắm. Tôi hi vọng trong thời gian tới công ty nên có lý giải thấu đáo hơn.

Như vậy, việc chia tay với SAMSUNG VINA mặc dầu đã mang về cho TIE một số tiền lớn, nhưng đây là số tiền đến một lần, nhà đầu tư nên thận trọng khi đánh giá thông tin dạng này. Công ty dường như chỉ theo đuổi công việc phân phối và thương mại trong suốt thời kỳ liên doanh, hoạt động học tập, nghiên cứu và phát triển vốn dĩ được kỳ vọng ban đầu lại không được đầu tư thỏa đáng. Thêm vào đó, chiến lược kinh doanh sắp tới ra sao, dòng tiền sẽ được tạo ra thế nào khi mảng nuôi sống công ty bao nhiêu năm qua không còn nữa vẫn là những câu hỏi lớn cần được công ty làm rõ. 

Nguồn: finandlife

Tags:

StockAdvisory | Stocks

FCN phát hành "khủng"

by finandlife18/09/2013 08:26

Trong bối cảnh thị trường chứng khoán khá ảm đạm, nhưng Công ty cổ phần Kỹ thuật nền móng và công trình ngầm FECON (FCN) vẫn dũng cảm theo đuổi chiến lược phát hành khủng. Động lực nào giúp FCN đưa ra quyết định này? Liệu rằng khả năng thành công có cao?

FCN đã liên tục trúng thầu những dự án lớn trong thời gian qua như: Dự án thi công nền móng khu liên hợp Gang thép Formusa, Hà Tĩnh; Dự án Nhà máy điện Thái Bình 1 và Thái Bình 2; Dự án Cảng Lạch Huyện; Dự án xây dựng nhà máy Samsung, Thái Nguyên; Dự án đê chắn sóng ở cảng Nghi Sơn; Dự án nhà máy LG Hải Phòng.Những dự án được ký kết đã đẩy nhu cầu đầu tư tăng cao, buộc FCN phải huy động thêm vốn từ thị trường.

Thật ra, nhu cầu vốn đã được thể hiện trong đề án phát hành vào tháng 10 năm 2012. Theo đề án đó, FCN đã thông báo kế hoạch phát hành 5.09 triệu cổ phiếu, bao gồm chi trả cổ tức 2.76 triệu cổ phiếu; 0.53 triệu cổ phiếu phát hành cho cổ đông hiện hữu với giá 20,000 đồng/cổ phiếu và 1.8 triệu cổ phiếu phát hành cho cổ đông chiến lược với giá 20,000đ/cổ phiếu. Nhưng đề án phát hành đã thất bại, công ty chỉ phân phối được 2.76 triệu cổ phiếu chi trả cổ tức và 162 cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu. Số tiền huy động được chỉ là 3.2 triệu đồng, rất bé so với con số mà công ty hướng đến (gần 50 tỷ đồng). Nguyên nhân thất bại chủ yếu do giá cổ phiếu trên sàn diễn biến bất lợi trong thời kỳ phát hành, trong thời gian từ ngày 25/10/2012 đến ngày 11/01/2013, giá FCN chỉ dao động trong khoảng 8,500 đến 12,200 đồng/cổ phiếu, thấp hơn rất nhiều so với mức giá phát hành 20,000 đồng, dẫn đến động lực đóng tiền mua mới không còn nữa.

Tuy thất bại trong huy động vốn từ thị trường vào cuối 2012, nhưng chính nhu cầu vốn đang rất cao đã thúc đẩy công ty tiếp tục đề án phát hành mới trong tháng 7 năm 2013.

Theo đó,

  • Ngày đăng ký cuối cùng để cổ đông hiện hữu thực hiện quyền nhận cổ tức và quyền mua chứng khoán phát hành thêm: ngày 12/08/2013;
  • Thời gian chuyển nhượng quyền mua và thời gian đăng ký đặt mua, nộp tiền mua cổ phiếu: từ ngày 19/08/2013 – 16/09/2013;
  • Thời hạn nộp hồ sơ đặt mua cổ phiếu, chuyển tiền đặt mua và thực hiện giao dịch: ngày 18/09/2013;
  • Thời gian dự kiến đưa cổ phiếu vào giao dịch trên thị trường có tổ chức: trong tháng 10/2013;
  • Thời gian phân phối cổ phiếu: trong vòng 90 ngày kể từ ngày nhận được Giấy phép phát hành của Ủy Ban Chứng Khoán Nhà Nước.

Rút kinh nghiệm thất bại của đợt phát hành năm 2012, FCN đã đổi nhà tư vấn từ Công ty Chứng khoán MB sang Công ty Chứng khoán HSC, đồng thời ký hợp đồng bảo lãnh phát hành với nhà cung cấp dịch vụ tư vấn, cụ thể, HSC cam kết sẽ mua toàn bộ cổ phiếu phát hành mới nếu cổ đông hiện hữu không thực hiện quyền của mình, mức giá bảo lãnh là 12,000 đồng/cổ phiếu. Như vậy, khả năng thành công của đợt phát hành này gần như chắc chắn.

Theo kế hoạch, mức vốn dự kiến thu hút lên đến 198.8 tỷ đồng (gấp 4 lần so với đề án cuối năm 2012). Tiền thu hút được sẽ tài trợ cho những khoản mục sau:

 

Đối tượng sử dụng vốn

Số tiền

Đầu tư máy móc, thiết bị thi công

140,000,000,000

Máy cọc cắt đầm chặt

15,000,000,000

Máy đóng cọc

35,000,000,000

Máy phụ trợ

15,000,000,000

Máy công trình ngầm Jet-grouting

75,000,000,000

Góp vốn bổ sung cho liên doanh FECON Shanghai Harbour

32,000,000,000

Bổ sung vốn lưu động

26,795,930,000

 

Giả sử tất cả những thông tin mà doanh nghiệp công bố và cam kết thực hiện là đúng, vấn đề còn lại của nhà đầu tư vào FCN chỉ là phân tích khả năng tạo ra dòng tiền trong thời gian tới và kiểm tra mức độ pha loãng khi lượng cổ phiếu khủng được lưu hành.

Hiện tại, chúng tôi vẫn chưa đủ thông tin để đánh giá dòng tiền trong một vài năm tới của FCN, chúng tôi sẽ bổ sung vấn đề này trong báo cáo khuyến nghị chi tiết về FCN (dự kiến phát hành sau khi chúng tôi tiếp xúc được với doanh nghiệp). Theo kế hoạch của công ty, trong năm 2013, một số dự án đóng góp doanh thu chủ yếu sẽ là: Siêu dự án nhà máy gang thép Formosa tại Hà Tĩnh: 500 tỷ đồng; Nhiệt điện Thái Bình 1: 160 tỷ đồng; Nhiệt điện Thái Bình 2: 134 tỷ đồng; Nhiệt điện Thái Bình 2 với phần cọc (đợt 1: dự kiến 120 tỷ đồng, đợt 2: 200 tỷ đồng)…

Về rủi ro pha loãng, việc phát hành khủng sẽ làm thu nhập trên mỗi cổ phần của FCN không còn cao như trước nữa (EPS năm 2011: 6,750 đồng/cổ phiếu; EPS năm 2012: 6,847 đồng/cổ phiếu). Theo tính toán của chúng tôi, nếu công ty hoàn thành kế hoạch lợi nhuận năm 2013, EPS 2013 cuối kỳ cũng chỉ đạt 3,018 đồng/cổ phiếu. Giá trị sổ sách cũng sẽ giảm từ 26,379 đồng cuối năm 2012 xuống 17,618 đồng/cổ phiếu cuối năm 2013.

Tóm lại, nhu cầu vốn cho hoạt động đầu tư đã thúc đẩy FCN tiến hành phát hành cổ phiếu với số lượng “khủng”. Trong bối cảnh thị trường chứng khoán không thuận lợi, đây là một hành động dũng cảm. Rút kinh nghiệm thất bại trong năm 2012, FCN đã ký hợp đồng bảo lãnh phát hành với nhà cung cấp dịch vụ tư vấn, đây là hành động nhằm tăng tính chắc chắn cho đợt phát hành. Đứng ở góc độ nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán, chúng ta phải tính toán được dòng tiền từ hoạt động của công ty trong những năm tới, đồng thời kiểm tra lại sự pha loãng. Đối với yếu tố dòng tiền, chúng tôi cần thêm thông tin để xác nhận, trong khi đó, với thị giá đang khá thấp hiện nay, sự pha loãng cổ phiếu FCN sau phát hành không đến nỗi quá nghiêm trọng. 

Nguồn: VFS Research|finandlife

Tags:

Economics | Stocks

Ý kiến về TOP 50 Forbes Việt Nam

by finandlife06/09/2013 14:15

Dạo gần đây thấy rất nhiều nhà đầu tư cũng như môi giới chứng khoán quan tâm đến danh sách 50 cổ phiếu niêm yết tốt nhất mà Forbes Việt Nam vừa công bố, tôi cũng tò mò vào xem.

Xem xong tôi không đồng ý với những cái tên sau: PXS (xếp hạng 19) và BHS (xếp hạng 41).

Theo như đánh giá của mình, nếu top cổ phiếu tốt nhất 2 sàn là 5 sao, top cổ phiếu lởm nhất là 1 sao, thì 2 cổ phiếu trên chỉ đạt 3 sao.

Cả 2 cổ phiếu này đều có chất lượng kinh doanh giảm đi trong mấy năm qua và 2 quý đầu năm 2013, trong khi đó, rủi ro tài chính lại tăng lên do tình hình công nợ ngày càng phình to so với nguồn vốn.

 

Cụ thể:

PXS:

 BHS:

Ngoài 2 cổ phiếu trên, còn có một số đại diện khác nữa mình chưa thật hài lòng. Vì đã gọi là TOP cổ phiếu tốt, không thể chỉ nhìn đó là cổ phiếu lớn được.

Danh sách của Forbes và đánh giá của finandlife như sau:

 

Nguồn: finandlife|Forbes Việt Nam

Tags:

Economics | StockAdvisory | Stocks

Giám đốc nhà máy tử vong và giá cổ phiếu IDI

by finandlife06/09/2013 09:12

Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Đa Quốc Gia I.D.I được thành lập năm 2003 với vốn điều lệ ban đầu 29 tỷ đồng. Đến nay vốn điều lệ của Công ty đã được tăng lên là 380 tỷ đồng. Sản phẩm kinh doanh chính của Công ty là cá tra xuất khẩu, các sản phẩm của Công ty bao gồm cá tra fillet, cá tra cắt khoanh, cá tra cắt miếng. Trong đó cá tra fillet là sản phẩm truyền thống mà Công ty đã tập trung đầu tư trong những năm qua. Hiện nay sản phẩm cá tra của Công ty đã có mặt tại khu vực Châu Phi, Đông Nam Á, Châu Âu, Trung Đông và Nam Mỹ với hơn 60 khách hàng.

Công ty đã duy trì tốc độ tăng trưởng doanh thu 3 năm liên tiếp, 2 quý đầu 2013, doanh thu thuần tiếp tục tăng 20%, lợi nhuận sau thuế tăng 10% so với cùng kỳ. Nhìn tổng quan thì tình hình kinh doanh không đến nỗi nào nhưng tình hình tài chính lại cho thấy bức tranh khác, nợ lên đến 67% tài sản, trong đó nợ vay vượt 20% vốn chủ sở hữu không khỏi làm người ta lo ngại.

Nếu dùng 5 sao để xếp hạng cổ phiếu tốt nhất và 1 sao cho cổ phiếu xấu nhất trên thị trường niêm yết Việt Nam, thì IDI chỉ được 3 sao. Có lẽ vì tình hình công nợ và những vấn đề trong cơ cấu tài sản mà IDI chỉ được thị trường trả giá hơn 6000 đồng/cổ phiếu.

Vào ngày 04/09/2013, 6 người chết tại một nhà máy của Cty, trong đó có 1 giám đốc và 1 phó giám đốc nhà máy đã làm cho giá cổ phiếu ngay lập tức giảm sàn (6%) vào ngày sau đó, ngày 05/09/2013. Với góc độ là một nhà đầu tư, liệu thông tin này sẽ ảnh hưởng đến mức nào trong biến động về giá?

Có 3 kiểu phản ứng về giá với thông tin trên thị trường. Thứ 1, giá ngay lập tức phản ảnh thông tin ngay khi thông tin xuất hiện, sau đó, giá cổ phiếu sẽ ổn định; thứ 2, giá cổ phiếu phản ứng chậm với thông tin, nghĩa là, khi thông tin xuất hiện, cổ phiếu sẽ thay đổi về giá trong vài ngày, vài tuần… sau khi đạt được mức cân bằng mới, giá sẽ ổn định; thứ 3, giá cổ phiếu phản ứng thái quá với thông tin và sau đó, giá sẽ điều chỉnh về mức ổn định.

Mô hình sau:

(Trường hợp: cổ phiếu xuất hiện tin tốt)

 

Vậy với thông tin trên, giá IDI sẽ phản ứng theo mô típ nào?

Muốn trả lời câu hỏi trên, ta phải dự ước tình hình hoạt động của cty sẽ ảnh hưởng nặng nề ra sao với thông tin trên?

Đây là một việc đau lòng, giám đốc và phó giám đốc nhà máy có tinh thần rất tốt. Nhưng một điều lạ là khi thông tin này tung ra thị trường, nhiều người hiểu nhầm, vị giám đốc và phó giám đốc tử nạn kia chính là tổng giám đốc và phó tổng giám đốc, nên có thể kích hoạt động thái bán thái quá.

Công ty có thể ngừng hoạt động trong 1 vài ngày vì sự cố, nhưng rồi đâu cũng vào đó, nhà máy cũng phải tiếp tục hoạt động, những người đứng đầu cty vẫn phải tiếp tục lèo lái con tàu  này.

Ngoài ra, IDI đã biến động trong khung giá từ 6000 đồng đến 7,700 đồng/cổ phiếu suốt >1 năm vừa qua. Trong đó, mức 7000 đồng có xác suất xuất hiện nhiều và dày đặc nhất. Việc xuất hiện tin xấu bất thường đã đẩy cổ phiếu nhanh chóng giảm về mức 6000 đồng/cổ phiếu, là vùng giá thấp nhất trong >1 năm qua. Vậy, với phân tích tác động thông tin này không ảnh hưởng quá lớn đến tình hình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp thì đây là cơ hội mua hàng giá rẻ cho những nhà đầu tư trên thị trường.

 

Nguồn: finandlife

Tags:

Stocks

Phân tích và khuyến nghị DQC (Cty Bóng Đèn Điện Quang)

by finandlife17/08/2013 10:29

Thanks VFS Research!

Công ty Cổ phần Bóng đèn Điện Quang (DQC) vừa công bố báo cáo tài chính Quý II và 6 tháng đầu năm 2013 với kết quả kinh doanh tăng trưởng ấn tượng.

Chúng tôi đánh giá cao những chuyển biến tích cực từ khoản công nợ phải thu từ đối tác Cuba, góp phần cải thiện đáng kể dòng tiền và các khoản thu nhập tài chính cho công ty. Bên cạnh đó, với những tín hiệu khả quan từ thị trường xuất khẩu, dự án Việt – Ven và khả năng kiểm soát giá thành, chúng tôi cho rằng DQC sẽ tiếp tục có được kết quả kinh doanh ấn tượng trong thời gian tới.

Cuối cùng, với phương pháp định giá chiết khấu dòng tiền FCFF, chúng tôi cho rằng, cổ phiếu DQC đang bị định giá thấp trên thị trường.

 

--------------------------------------------------------

Kết quả kinh doanh 6 tháng 2013 khả quan

Quý I/2013, thị trường xuất khẩu khó khăn khiến doanh thu của công ty chỉ đạt 169.5 tỷ đồng, sụt giảm 7.8% so với cùng kỳ năm trước. Trong khi đó, tỷ giá ổn định, lãi suất tiền vay giảm và thu nhập tài chính gia tăng giúp công ty có được 18.4 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế, tăng 63% so với cùng kỳ năm trước.

Bước sang Quý II, thị trường xuất khẩu khởi sắc trở lại giúp công ty có được 260 tỷ đồng doanh thu thuần, tăng gần 100% so với cùng kỳ. Kiểm soát giá thành tốt giúp lợi nhuận gộp đạt 83.2 tỷ đồng, tăng 308% so với Quý II năm trước. Tuy nhiên, việc chi phí quản lý đột ngột tăng mạnh (tăng 130% so với cùng kỳ và gấp 3 lần so với trung bình các quý trước) khiến lợi nhuận sau thuế chỉ đạt 11.4 tỷ đồng, tăng 37.3% so với Quý II/2012.

Luỹ kế 6 tháng đầu năm, doanh thu thuần đạt 429.4 tỷ đồng, tăng 25.4%, lợi nhuận gộp đạt 134 tỷ đồng, tăng 73.6%, lợi nhuận sau thuế đạt gần 30 tỷ đồng, tăng 52% so với 6 tháng đầu năm 2012.

Như vậy, tính đến hết Quý II/2013, công ty đã hoàn thành được 62% kế hoạch doanh thu thuần, 57% kế hoạch lợi nhuận sau thuế đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2013 giao phó.

Khả năng hoàn thành vượt kế hoạch

Chúng tôi cho rằng, 6 tháng cuối năm, doanh thu của công ty sẽ tiếp tục khởi sắc nhờ thị trường xuất khẩu, đặc biệt từ dự án Việt – Ven. Công ty sẽ hoàn thành vượt kế hoạch lợi nhuận nhờ biên lãi gộp gia tăng và ghi nhận các khoản lãi chênh lệch tỷ giá, lãi bán hàng trả chậm khi khách hàng Consumer Import thực hiện đúng tiến độ trả nợ.

Tình hình công nợ chuyển biến tích cực

Việc thu hồi công nợ Cuba luôn được Công ty chú trọng thông qua các hoạt động đàm phán trực tiếp tại nước bạn và các thư thông báo nợ. Năm 2010, công ty có được bước tiến nhảy vọt liên quan đến khoản nợ này khi đạt được cam kết trả nợ mới. Theo đó, phía bạn bắt đầu trả nợ từ tháng 01/2011.

Đến thời điểm cuối năm 2012, tổng số dư nợ còn lại bao gồm cả gốc và lãi là khoảng 39.3 triệu USD, tương đương 818.9 tỷ đồng. Với mức thanh toán khoảng 800,000 – 1,000,000 USD mỗi tháng, phía bạn cam kết đến hết năm 2016 sẽ thanh toán hết nợ cho công ty. Như vậy, mỗi năm DQC sẽ thu được khoảng 200 tỷ đồng, giúp cải thiện dòng tiền, khả năng thanh toán nợ vay và tài trợ cho các cơ hội tăng trưởng mới.

Bên cạnh đó, công ty còn nhận được thu nhập không nhỏ nhờ lãi chênh lệch tỷ giá từ khoản phải thu này. Năm 2007, tỷ giá liên ngân hàng cuối năm chỉ là 16,114 VND/USD, với tỷ giá cuối năm 2012 là 20,820 VND/USD, DQC sẽ nhận khoảng 4,706 đồng lãi chênh lệch tỷ giá đã thực hiện cho mỗi USD nhận được từ đối tác Cuba. Khoản lãi chênh lệch tỷ giá DQC ghi nhận cho năm 2012 là 48.9 tỷ trên số tiền thu được 9.8 triệu USD.

Cùng với các khoản lãi bán hàng trả chậm, lãi tiền gửi, cho vay, mỗi năm công ty ghi nhận khoảng 60 tỷ đồng thu nhập tài chính, chiếm  95% lợi nhuận trước thuế của công ty.

 

Khoản lãi trả chậm năm 2010 từ khách hàng Cuba là 6.16 triệu USD đã được DQC hạch toán một phần vào thu nhập hoạt động tài chính năm 2010. Phần lãi trả chậm còn lại 3.33 triệu USD tương đương 69.4 tỷ đồng vẫn đang được treo ở mục Doanh thu chưa thực hiện trong bảng cân đối kế toán. Theo ý kiến của công ty, khoản lãi và khoản nợ gốc phải thu này được thực hiện theo chương trình hợp tác liên chính phủ Việt Nam – Cu Ba, thực tế cho thấy khả năng thu hồi khoản nợ này là chưa chắc chắn, do đó công ty chưa hạch toán vào thu nhập hoạt động tài chính.

Ghi nhận doanh thu từ dự án Việt - Ven

Dự án Việt – Ven với công suất thiết kế hơn 74 triệu bóng đèn/năm, gồm 7 giai đoạn kéo dài từ năm 2010 đến năm 2017, tổng vốn đầu tư 300 triệu USD, trong đó Tập đoàn Công nghiệp Dầu khí Venezuela đóng góp 70% và DQC đóng góp 30% (tùy từng giai đoạn mà tỷ lệ góp là từ 25% và giai đoạn cuối nâng lên 30%) dựa trên chuyển giao kỹ thuật công nghệ (không góp tiền, lãi chia theo tỷ lệ góp vốn).

Trong năm 2012 Điện Quang đã hoàn thành một số hạng mục quan trọng trong Hợp đồng tổng thầu, lắp đặt được 5 dây chuyền sản xuất đèn compact tiết kiệm điện; cử nhiều lượt cán bộ, chuyên gia sang Venezuela chuyển giao công nghệ cho nhà máy liên doanh. Kết quả, phân xưởng đầu tiên của khu liên hợp đã đi vào sản xuất và cho ra những sản phẩm đầu tiên kể từ ngày 21/5/2012 với công suất giai đoạn 1 của nhà máy là 12 triệu bóng/năm. Dự kiến năm 2013, công ty sẽ ghi nhận khoảng 8 triệu USD doanh thu từ việc triển khai dự án này.

Bên cạnh đó, với việc cung cấp bán thành phẩm cho dự án, DQC sẽ có thêm một nguồn doanh thu ổn định đáng kể trong năm 2013 và các năm sau đó khi nhà máy đi vào hoạt động ổn định (Bắt đầu ghi nhận từ tháng Quý II/2013 do bất ổn chính trị tại Venezuela).

Biên lãi gộp dần cải thiện

Cơ cấu tiêu thụ sản phẩm của công ty đang có những bước cải thiện đáng kể với tỷ trọng đèn tuýp huỳnh quang có lợi nhuận biên thấp đã giảm từ 21.5% năm 2008 xuống chỉ còn 9.5% năm 2012, trong khi tỷ trọng tiêu thụ sản phẩm đèn compact tiết kiệm điện có tỷ suất lợi nhuận cao lại tăng từ 30.5% năm 2008 lên 36.7% năm 2012. Cùng với việc kiểm soát tốt giá thành sản xuất, biên lãi gộp của công ty đang có sự cải thiện đáng kể, đặc biệt trong 6 tháng đầu năm 2013.

Giảm bớt áp lực chi phí tài chính

Chi phí lãi vay hàng năm chiếm khoảng 60 – 70% chi phí tài chính của công ty, còn lại là các khoản lỗ do chênh lệch tỷ giá. Hiện tại, cơ cấu vay nợ của công ty chủ yếu là các khoản vay ngắn hạn để bổ sung vốn lưu động và khoản vay ưu đãi dài hạn dùng để thực hiện hợp đồng xuất khẩu bóng đèn compact với nhà nhập khẩu Consumer Import (Cuba) đang đến hạn trả (lãi suất 7.5%/năm, thời gian ân hạn đến cuối năm 2015). Số dư nợ gốc của khoản vay này giảm dần từ năm 2009 cùng với việc lãi suất trong xu hướng giảm giúp công ty giảm bớt áp lực lãi vay. Trong khi đó tỷ giá ổn định trở lại cũng giúp công ty giảm thiểu khoản lỗ do chênh lệch tỷ giá. Tỷ trọng chi phí tài chính trên doanh thu của công ty đang giảm dần giúp cải thiện biên lãi trước thuế và biên lãi ròng.

Chi phí quản lý, chi phí bán hàng gia tăng

Chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp của công ty tăng nhanh những năm qua do công ty đẩy mạnh công tác bán hàng, tăng cường các hoạt động quảng cáo, marketing và tăng lương cơ bản cho người lao động. Tỷ trọng chi phí bán hàng và chi phí quản lý trên doanh thu tăng nhanh từ mức 15% năm 2009 lên đến trên 21% năm 2012 và 24% trong 6 tháng đầu năm 2013. Đặc biệt, khoản chi phí quản lý doanh nghiệp Quý II năm 2013 đột ngột tăng mạnh, gần gấp 3 lần so với trung bình các quý trước.

Biên lãi ròng và hiệu quả hoạt động cải thiện

Mặc dù chi phí bán hàng và quản lý gia tăng nhưng việc biên lãi gộp cải thiện, thu nhập tài chính gia tăng và chi phí tài chính giảm dần đã giúp công ty có được lợi nhuận và biên lãi ròng khả quan hơn.

Việc một lượng vốn lớn bị chiếm dụng do đối tác Cuba thanh toán tiền không đúng hạn đã ảnh hưởng mạnh đến hiệu suất sử dụng tài sản và tỷ suất sinh lời trên vốn đầu tư của công ty những năm qua. Bắt đầu từ năm 2011, tiến độ thu tiền từ thương vụ này bắt đầu được đẩy nhanh trở lại giúp giảm bớt các khoản phải thu. Trong khi biên lợi nhuận gia tăng giúp công ty cải thiện các chỉ tiêu tỷ suất sinh lời và hiệu quả hoạt động.

Thương hiệu lâu đời, thị phần rộng lớn

Thị trường thiết bị chiếu sáng tại Việt Nam được phân chia theo tỷ lệ 60% hàng nội và 40% hàng ngoại. Trong đó, các thiết bị chiếu sáng dân dụng hầu như thuộc về doanh nghiệpnội địa. Một nghiên cứu về thị trường của Neilsen Vietnam vào đầu năm 2011 cho thấy, sản phẩm của Điện Quang đang chiếm khoảng 40% thị trường này. Thương hiệu Điện Quang trải qua gần 40 năm hình thành và phát triển vẫn đang là thương hiệu có độ nhận biết mạnh nhất ngành bóng đèn điện và thiết bị chiếu sáng, nhờ hệ thống phân phối rộng khắp, sản phẩm đa dạng, được người tiêu dùng đánh giá cao.

Bên cạnh đó, sản phẩm của Điện Quang còn được xuất khẩu đến hơn 30 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, chủ yếu tập trung ở các nước Đông Nam Á, Hàn Quốc, Trung Đông…

Tăng trưởng nhờ nỗ lực vượt khó

Năm 2007, doanh thu của công ty tăng trưởng đột biến nhờ đơn hàng xuất khẩu với đối tác Consumer Import (Cu Ba). Việc đối tác này không thực hiện thanh toán tiền hàng đúng tiến độ đã dẫn đến rất nhiều khó khăn cho DQC những năm sau đó. Tuy nhiên, bằng nỗ lực của mình, doanh thu của công ty vẫn có được tốc độ tăng trưởng 13.5% mỗi năm (CAGR) trong giai đoạn 2008 - 2012. Với lợi thế thị phần, thương hiệu, chúng tôi cho rằng công ty sẽ cải thiện tình hình này trong thời gian tới khi tiến độ thu hồi các khoản nợ xấu được đẩy nhanh.

Doanh thu nội địa tăng trưởng ổn định

Xu hướng chuyển dần sang việc sử dụng các loại đèn tiết kiệm điện trong nước giúp doanh thu nội địa của công ty tăng trưởng khá tốt từ năm 2009 đến nay. Tỷ lệ tăng trưởng CAGR giai đoạn 2009 – 2012 đạt 16.7%/năm giúp khu vực nội địa trở thành thị trường chính đóng góp phần lớn vào tổng doanh thu của công ty 2 năm gần đây.

Năm 2012, doanh thu nội địa tăng 8% so với năm 2011 chủ yếu nhờ các sản phẩm mang tính khác biệt cao như bộ đèn Doublewing tăng 64% và đèn compact chống ẩm  tăng 435% so với năm 2011.

Công tác xuất khẩu gặp nhiều khó khăn

Những năm gần đây, công tác xuất khẩu của công ty gặp nhiều khó khăn do nhu cầu chung của thế giới bị giảm sút và sự cạnh tranh gay gắt từ các doanh nghiệp sản xuất bóng đèn Trung Quốc. Đặc biệt, tình hình bất ổn tại tại Ai Cập khiến cho việc xuất khẩu tại thị trường truyền thống này bị sụt giảm nghiêm trọng, ảnh hưởng đến doanh thu xuất khẩu chung.

Tuy nhiên, bắt đầu từ Quý II/2013, thị trường xuất khẩu của DQC đã có dấu hiệu khởi sắc trở lại, giúp doanh thu của công ty tăng trưởng đột biến.

Các quy định của Nhà nước liên quan đến việc cấm sản xuất và lưu thông các sản phẩm tiêu hao nhiều điện năng như đèn sợi đốt, chuyển sang sử dụng các loại đèn tiết kiệm điện và quá trình đô thị hoá khu vực nông thôn đã, đang và sẽ tiếp tục diễn ra là cơ hội để các doanh nghiệp chuyên sản xuất các loại bóng đèn tiết kiệm điện như Điện Quang gia tăng sản lượng tiêu thụ, cải thiện tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận thời gian tới.

So sánh với doanh nghiệp cùng ngành

Rào cản kỹ thuật đối với ngành bóng đèn là khá cao nên hiện tại ở Việt Nam chỉ có 2 doanh nghiệp lớn sản xuất bóng đèn làĐiện Quang ở phía Nam và Rạng Đông (RAL) ở phía Bắc. Cả 2 doanh nghiệp này đều gặp phải khó khăn từ việc đối tác Cuba không thanh toán đủ tiền hàng năm 2007 nhưng DQC chịu thiệt hại nặng nề hơn. Chính điều này đã khiến doanh thu và lợi nhuận của DQC sau năm 2007 sụt giảm nghiêm trọng và tụt dần so với tốc độ tăng trưởng của RAL. Các chỉ số tài chính của DQC vì thế cũng thấp hơn nhiều so với RAL.

Dòng tiền cải thiện – định giá hấp dẫn

Với những dấu hiệu tích cực từ thị trường xuất khẩu, dự án Việt Ven; khả năng kiểm soát giả thành, cải thiện biên lợi nhuận và đặc biệt là dòng tiền thu được từ các khoản công nợ phải thu, chúng tôi cho rằng, DQC sẽ cải thiện đáng kể kết quả kinh doanh và hiệu quả hoạt động thời gian tới.

Sử dụng phương pháp định giá chiết khẩu dòng tiền FCFF với một số các giả định cơ bản:

-          Khoản công nợ từ khách hàng Consumer Import được thu hồi đúng tiến độ cam kết.

-        Doanh thu thuần tăng trưởng 10%/năm trong vòng 5 năm tới (nhờ thị trường xuất khẩu, dự án Việt Ven…) sau đó giảm dần và bắt đầu tăng trưởng ổn định 5%/năm từ năm thứ 10.

-          Chi phí sử dụng vốn 15% cho giai đoạn ổn định.

Chúng tôi cho rằng cổ phiếu DQC đang được thị trường định giá khá thấp so với giá trị thực. Fair Value của DQC ở mức khoảng 38,100 đồng, cao hơn 42% so với giá đóng cửa ngày 15/8/2013.

 Nguồn: finandlife|Đức|VFS Research

Tags:

Stocks

AUTOFEED

DISCLAIMER

I am a Senior Associate – Investment at Viet Capital Securities Co., in Vietnam. I started working in investment field as a junior analyst at a Fund in 2007. I have more than 12 years of experience in investment analysis. I have a deep understanding of Vietnam macroeconomics, equity research, and seeking investment opportunities. This is my private Blog. I use this Blog to store information and share my personal views. I don't guarantee the certainty. And I am not responsible when the user uses the information from the Blog for trading/investing activities. If you have any questions, please feel free to contact me via email thuong.huynhngoc@gmail.com. 

Designed by: Nguyễn Chí Hiếu