Cập nhật thông tin ĐHCĐ FDC 18/03/2014

by finandlife18/03/2014 16:41

CTCP Ngoại Thương Và Phát Triển Đầu Tư TPHCM - FIDECO

Tình hình hoạt động kinh doanh năm 2013

Kết quả kinh doanh đột biến nhờ bán toà nhà Fideco Tower.

v  Doanh thu: 684.8 tỷ đồng, tăng gấp 4.1 lần so với năm 2012 và tăng gấp 6.45 lần so với kế hoạch 2013. Trong đó chủ yếu là khoản doanh thu tài chính đến từ việc thoái vốn tại FidecoLand (404.8 tỷ đồng).

v  Lợi nhuận trước thuế đạt 326.5 tỷ đồng, tăng gấp 8.3 lần so với năm 2012 và tăng gấp 6.14 lần so với kế hoạch năm 2013.

Tình hình tài chính lành mạnh

v  Tài sản ngắn hạn cuối năm 2013 đạt 899.2 tỷ đồng, gấp 2.84 lần so với đầu năm chủ yếu do tăng các khoản tương đương tiền (gần 500 tỷ đồng) và các khoản phải thu từ chuyển nhượng cổ phần FidecoLand.

v  Tài sản dài hạn cuối năm 2013 đạt 140.1 tỷ đồng, giảm 60% so với đầu năm do giảm bất động sản đầu tư (chuyển nhượng toà nhà Fideco Tower).

v  Cơ cấu vốn lành mạnh. Tổng nợ/Tổng tài sản = 30%. Công ty gần như không có vay nợ (0.2 tỷ đồng).

Chưa thể tiếp tục đầu tư vào các dự án bất động sản dở dang

v  Dự án Khu dân cư – thương mại – dịch vụ Đông Bình Dương – 127.6 ha:

§   Hoàn tất thi công san lấp đợt 1, tạm ngưng san lấp đợt 2 do UBND xã đang thi công hệ thống thoát nước toàn thị xã

§   Tổng diện tích đã đền bù của dự án là 110.2 ha. Năm 2013 không thoả thuận đền bù thêm hộ nào do đa số hộ dân không đồng ý với giá đền bù được phê duyệt.

v  Dự án khu nhà ở phường Bình Trung Đông – 5ha: Đang chuẩn bị hoàn tất công tác đền bù giải phóng mặt bằng.

v  Dự án khu nhà ở huyện Cần Giờ - 29.8 ha: Tạm ngưng triển khai đầu tư xây dựng do tình hình kinh doanh bất động sản đang gặp nhiều khó khăn.

v  Dự án khu đô thị dịch vụ Trảng Bàng (KCN Trảng Bàng) – 150ha:

§   Được quản lý và triển khai bởi CTCP đầu tư Fideco Trảng Bàng trong đó Fideco chiếm 30% vốn điều lệ.

§   29/8/2013: nhất trí ngưng đầu tư vào dự án. Fideco Trảng Bàng đang tiến hành các thủ tục có liên quan để nghị UBND tỉnh thu hồi dự án giao cho Nhà đầu tư khác có nhu cầu và tiến hành thủ tục giải thể công ty. Ngày 9/10/2013, UBND tình Tây Ninh đã có văn bản thu hồi chủ trương đầu tư của dự án.

v  Dự án KCN & KDC phục vụ KCN Tân Đức – 1,200ha:

§   Dự án được quản lý bởi CTCP Ngoại thương Phát triển và Đầu tư Đức Lợi, trong đó Fideco chiếm 60% vốn điều lệ.

§   Quy mô dự án bị điều chỉnh giảm từ 908.2 ha xuống 300 ha à ngày 31/12/2013: hội đồng quản trị Fideco thống nhất thoái vốn tại CTCP Ngoại thương Phát triển và Đầu tư Đức Lợi.

Hoạt động cho thuê văn phòng khá ổn định

v  Văn phòng 28 Phùng Khắc Khoan: Doanh thu năm 2013 đạt 14.2 tỷ đồng, giarm1.8% so với cùng kỳ, vượt 2.2% kế hoạch.

v  Cao ốc Fideco Riverview: Doanh thu năm 2013 đạt 4.3 tỷ đồng, giảm 5.8% so với cùng kỳ, vượt 4.44% kế hoạch.

v  Cao ốc Fideco Tower (đã chuyển nhượng): Doanh thu tính đến 31/10/2013 là 68.05 tỷ đồng, đạt 84.36% kế hoạch 2013 và bằng 82.77% so với doanh thu cả năm 2012.

Hoạt động đầu tư chứng khoán

v  Đầu tư ngắn hạn: Giá vốn tồn kho đến 31/12/2013 là 102.62 tỷ đồng, đã trích lập dự phòng 8.62 tỷ đồng.

v  Đầu tư dài hạn: Giá vốn tồn kho đến 31/12/2013 là 81.44 tỷ đồng, đã trích lập dự phòng 21.65 tỷ đồng. Thu tiền cổ tức trong năm là 6.58 tỷ đồng.

Kế hoạch kinh doanh 2014

Chỉ tiêu tài chính:

v  Doanh thu: 71.927 tỷ đồng.

v  Lợi nhuận trước thuế: 45.043 tỷ đồng.

v  Lợi nhuận sau thuế: 36.849 tỷ đồng.

v  Cổ tức dự kiến: 12%.

Các dự án đầu tư

v  Công ty tiếp tục theo dõi và duy trì các dự án: Dự án khu dân cư – thương mại – dịch vụ Đông Bình Dương, Dự án Khu nhà ở Bình Trưng Đông và dự án Khu nhà ở huyện Cần Giờ.

v  Ngoài ra dự kiến năm 2014 công ty sẽ tiếp tục xúc tiến các bước chuẩn bị để triển khai dự án xây mới toà nhà văn phòng 28 Phùng Khắc Khoan (trụ sở hiện tại của công ty).

Cho thuê văn phòng

Doanh thu dự kiến từ cho thuê văn phòng năm 2014 đạt 17.75 tỷ đồng, trong đó Văn phòng 28 Phùng Khắc Khoan đạt 14 tỷ đồng, Cao ốc Fideco Riverview đạt 3.75 tỷ đồng.

Đầu tư tài chính (dự kiến là hoạt động mang lại doanh thu và lợi nhuận chủ yếu cho công ty năm 2014).

v  Năm 2014 công ty sẽ đẩy mạnh hoạt động đầu tư tài chính nhằm tạo ra thu nhập tối đa cho cổ đông thông qua việc đầu tư vào các đơn vị có tình hình kinh doanh tốt, rủi ro thấp. Dự kiến kế hoạch thu từ hoạt động tài chính năm 2014 là 46 tỷ đồng.

v  Tiếp tục tham gia đầu tư vào các đơn vị mà Công ty là đối tác chiến lược khi các đơn vị này phát hành chứng khoán

v  Thực hiện kinh doanh chứng khoán trên thị trường niêm yết

Thông qua kế hoạch phân phối lợi nhuận năm 2013:

Chi trả cổ tức 30% bằng tiền mặt (kế hoạch 12%) trong đó công ty đã thực hiện tạm ứng đợt 1 9% trong tháng 11/2013.

Thông qua việc thay đổi mục đích sử dụng vốn huy động của đợt phát hành cổ phiếu chào bán năm 2013

Theo phương án sử dụng vốn đã công bố trong Bản cáo bạch phát hành ra công chúng đợt tháng 9/2013, số tiền thu được từ đợt phát hành sẽ được sử dụng để thực hiện các dự án đầu tư: Đầu tư mỏ cát và mỏ đá thuộc dự án Khu công nghiệp Tân Đức (62.1 tỷ đồng) và Dự án Khu đô thị - thương mại dịch vụ và dân cư Đông Bình Dương (60 tỷ đồng). Tuy nhiên do thị trường bất động sản khó khăn công ty chưa thể tiếp tục đầu tư triển khai hai dự án nói trên vì hiệu quả không khả thi (Công ty đã thoái vốn tại CTCP Ngoại Thương phát triển và đầu tư Đức Lợi (trong đó có dự án đầu tư khai thác mỏ cát và mỏ đá thuộc khu công nghiệp Tân Đức). Dự án Khu Đô thị - thương mại dịch vụ và dân cư Đông Bình Dương thì đang gặp khó khăn trong vấn đề thoả thuận đền bù giải phóng hợp đồng).

Nhằm mang lại lợi ích cao nhất cho cổ đông, đại hội cổ đông thống nhất chấp thuận cho thay đổi mục đích sử dụng số vốn 122.1 tỷ đồng của đợt phát hành cổ phiếu 2013 để đầu tư vào Dự án xây mới Toà nhà văn phòng 28 Phùng Khắc Khoan – Q1 – TPHCM dự kiến sẽ được triển khai trong năm 2014.

Tóm lại: Năm 2014 công ty sẽ khó có được kết quả kinh doanh đột biến như trong năm 2013, tuy nhiên với thanh khoản dồi dào (trên 500 tỷ đồng tiền mặt), kỳ vọng công ty sẽ tiếp tục có được kết quả kinh doanh khả quan, vượt kế hoạch nhờ hoạt động đầu tư tài chính trong thời gian tới.

 

Nguồn: Analyst Phan Minh Đức, VFS Research

Tags: ,

Stocks

Phân tích và khuyến nghị SBA (Cổ phiếu Cty Sông Ba)

by finandlife18/02/2014 20:40

Đây là một báo cáo mới của VFS Research, được xuất bản chiều ngày 18/02/2014. Thanks VFS Research!

“Chúng tôi quan tâm đến Công ty cổ phần Sông Ba (SBA), một công ty sở hữu hai nhà máy thủy điện, nhà máy Khe Diên tại Quảng Nam có công suất 9MW và nhà máy Krông H’năng tại Phú Yên có công suất 64MW, vì những chuyển mới hết sức tích cực về cơ bản doanh nghiệp trong thời gian qua và mức định giá hấp dẫn.

Thứ nhất, đây là doanh nghiệp khá tiêu biểu cho việc đi lên từ khó khăn. Cụ thể, trong năm 2013, SBA đã được EVN tăng giá mua điện thêm 40% cho nhà máy thủy điện Krông H’năng, giúp doanh thu tăng 32%, lợi nhuận sau thuế tăng 256% so với năm 2012. Thêm vào đó, tình hình tài chính và thanh khoản doanh nghiệp đã bớt xấu hơn, SBA đã hoàn thành việc phát hành riêng lẻ cho Tổng Công Ty Điện Lực Miền Trung thu về 78 tỷ đồng trong quý 4. Ngoài ra, dự báo thủy văn cho thấy lượng nước sẽ về hồ nhiều hơn những năm tới.

Thứ hai, SBA đang bị thị trường đánh giá thấp so với giá trị thực của doanh nghiệp. Theo dữ liệu thu thập được và phương pháp định giá của chúng tôi, giá hợp lý của SBA ở mức 14,000 đồng một cổ phiếu, tức cao hơn 40% so với giá đóng cửa ngày 17 tháng 02 năm 2014.”

-----------------------------------------------

Giá bán điện tăng mạnh trong năm 2013

Hiện tại, Giá bán điện tại Nhà máy thủy điện (NMTĐ) Khe Diên được vận hành theo biểu giá chi phí tránh được, do nhà máy này có công suất dưới 30 MW. Trong khi đó, giá bán điện tại Nhà máy thủy điện K Rông H’Năng lại vận hành theo Thị trường phát điện cạnh tranh. Giá bán điện theo 2 hình thức có nhiều khác biệt, trong đó, giá bán khi tham gia thị trường phát điện cạnh tranh có mức ổn định cao hơn.

Từ tháng 06 năm 2013, SBA đã đàm phán thành công việc tăng giá bán điện của nhà máy thủy điện K Rông H’Năng thêm 40%. Đây là một điểm cộng đáng ghi nhận nhất trong năm vừa qua cũng như những năm tới. K Rông H’Năng mang lại 80% doanh số của Công ty, do vậy, sự tăng giá bán hứa hẹn mang lại sự thay đổi đáng kể về dòng thu nhập cũng như dòng tiền các năm tiếp theo.

Hoàn thành vượt chỉ tiêu kế hoạch kinh doanh 2013

Việc điều chỉnh tăng mạnh giá bán điện cho NMTĐ Krông H’năng trong năm 2013 đã giúp công ty có được sự tăng trưởng ấn tượng về kết quả kinh doanh so với cùng kỳ năm trước. Theo đó, doanh thu thuần (DTT) đạt 222.2 tỷ đồng, tăng 32% so 2012. Biên lãi gộp đang dần cải thiện theo hướng đi lên sau khi giảm nhẹ vào năm 2012 và đạt mức 66% trong năm 2013 – cao nhất trong các năm.

Lợi nhuận sau thuế (LNST) năm 2013 của công ty đạt 66.6 tỷ đồng, tăng hơn 3.6 lần so với cùng kỳ, vượt 32% so với kế hoạch và là kết quả tốt nhất từ trước tới nay.

Tỉ trọng chi phí trên DTT giảm mạnh trong 2013

Giá vốn hàng bán trên doanh thu thường xuyên duy trì ở mức cao hơn 37% những năm trước đã giảm xuống 34% trong năm 2013. Bên cạnh đó, chi phí tài chính (CPTC) (phần lớn là lãi vay) cũng đã giảm từ mức trung bình 43% trên doanh thu xuống còn 32% trong năm 2013. Đây là hai khoản mục chi phí lớn nhất đối với SBA, và đều có sự chuyển biến tích cực trong năm 2013, do vậy, biên lãi gộp và biên lãi sau thuế đã cải thiện một cách đáng kể.

Sản lượng điện duy trì ở mức ổn định trong 2013

Nguồn thu nhập của công ty chủ yếu đến từ 2 nhà máy thủy điện: Khe Diên nằm trên địa bàn tỉnh Quảng Nam và Krông H’năng thuộc địa phận 2 tỉnh Đắk Lắc – Phú Yên. Với công suất 9MW, sản lượng điện của nhà máy thủy điện Khe Diên chỉ chiếm 20% doanh thu. 80% doanh thu còn lại đến từ nhà máy thủy điện Krông H’năng, với công suất 64MW.

Năm 2013 tỉnh Quảng Nam đối mặt với tình trạng mùa khô tới sớm và kéo dài hơn mọi năm khiến sản lượng của nhà máy thủy điện Khe Diên chỉ đạt 31.49 Tr.kWh giảm 23% so với năm trước. Nhưng  bù lại thời tiết tại Đắk Lắk và Phú Yên tương đối ổn định giúp nhà máy thủy điện Krông H’năng đạt sản lượng 166.86 Tr.kWh tăng 8% so với năm trước. Như vậy ước sản lượng điện cả năm 2013 công ty đạt hơn 198.39 Tr.kWh tăng nhẹ 1% so với 2012.

Lãi suất vay ưu đãi

Chi phí lãi vay lớn do công ty vay nợ nhiều để đầu tư cho 2 nhà máy thủy điện. Hầu hết các khoản vay nợ của công ty là nợ vay dài hạn từ Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) với lãi suất ưu đãi cố định từ 6.9% - 8.4%/năm cho nhà máy thủy điện Krông H’năng và cá biệt chỉ có 3.9%/năm cho nhà máy thủy điện Khe Diên.

Vay nợ nhiều trong khi tài sản ngắn hạn ít khiến các chỉ số thanh toán của công ty ở mức khá thấp. Mặc dù vậy, nhờ vào việc phát hành thành công 80 tỷ đồng cổ phiếu riêng lẻ cho Tổng Công ty Điện lực miền Trung trong năm 2013, chỉ số thanh toán đã cho thấy sự cải thiện hơn so với các năm trước.

 

Trong năm 2014 công ty tiếp tục được VDB phê duyệt chỉ phải trả hơn 52 tỷ đồng nợ vay gốc, giảm gần 60% so với kế hoạch ban đầu là 128 tỷ. Như vậy, năm 2014 cũng sẽ là một năm thuận lợi hơn cho dòng tiền của công ty.

Được ưu đãi lớn từ chính sách thuế TNDN

NMTĐ Khe Diên: được Chính phủ miễn 50% thuế trong 5 năm (năm 2014 là năm cuối cùng được hưởng) và được tỉnh Quảng Nam hỗ trợ miễn thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) thêm 5 năm kể từ khi hết thời hạn miễn giảm thuế của Chính phủ.

NMTĐ Krông H’năng: được miễn thuế 4 năm kể từ năm 2010 và giảm 50% cho 7 năm tiếp theo. Như vậy năm 2013 sẽ là năm cuối cùng được miễn thuế và bắt đầu từ năm 2014 công ty mới phải đóng 50% thuế TNDN.

 

(Qua trao đổi với doanh nghiệp, chúng tôi được biết hiện SBA đang trình Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh Phú Yên mức thuế suất thu nhập ưu đãi là 10%, nhiều khả năng mức thuế suất mới này sẽ được chấp nhận từ 2014)

Dự phóng những năm tới

Số liệu dự báo thủy văn của SBA cho thấy những năm tới lượng nước sẽ về các hồ thủy điện khá tốt, năm 2014 dự kiến sản lượng điện đạt 234 triệu kWh, tăng 18% so với 2013, và đạt đỉnh 342 triệu kWh năm 2015 (xem biểu đồ bên phải). Chính vì thế mà trong báo cáo kế hoạch dự kiến về thu nhập của Công ty cũng cải thiện đáng kể.

 

Tuy vậy, đứng ở khía cạnh là nhà đầu tư tài chính, chúng tôi phải thận trọng hơn trước những con số dự kiến này. Thu nhập trên mỗi cổ phần dự phóng năm 2014 của chúng tôi chỉ là 1,192 đồng, khá khiêm tốn so với con số 1,644 đồng dự kiến của Công ty.

* Số liệu dự kiến của Công ty SBA trong những năm tới.

Cổ tức dự kiến ổn định ở mức 10%

Với diễn biến kết quả kinh doanh năm 2013 khả quan, chúng tôi cho rằng nhiều khả năng SBA sẽ chi trả cổ tức cao hơn so với kế hoạch 5% (hiện tại, Công ty chưa ứng cổ tức đợt nào). Qua trao đổi với doanh nghiệp, chúng tôi được biết, mức chi trả dự kiến sẽ cố định ở 1000 đồng/cổ phiếu cho 2013 và những năm tới.

Với mức giá hiện tại, suất sinh lời cổ tức của SBA đạt 10%/năm.

Định giá

Các chỉ số định giá so sánh hiện tại cho thấy SBA đang bị thị trường đánh giá thấp. Trong đó, P/B đang ở mức thấp nhất so với các cổ phiếu trong ngành, thị giá chỉ bằng 0.87 lần so với giá trị sổ sách.

Kết hợp phương pháp định giá chiết khấu dòng tiền FCFF với phương pháp định giá so sánh P/E, P/B, chúng tôi cho rằng giá hợp lý của SBA là 14,000 đồng/cổ phiếu, cao hơn 40% so với giá đóng cửa ngày 17 tháng 02 năm 2014.

Dự án mới: Thủy điện Krông H’năng 2

Công trình thủy điện Krông H’năng 2 nằm cách Krông H’năng 1 khoảng 7km về hướng hạ du. Vẫn đang hoàn tất các thủ tục pháp lý. Tổng mức đầu tư 300 đến 320 tỷ đồng, công suất 15MW. Theo số liệu của Công ty SBA, mức đầu tư trong năm 2014 đối với công trình này là 10 tỷ đồng, năm 2015 và 2016 sẽ đầu tư mạnh hơn, mỗi năm khoảng 100 tỷ đồng.

 

Nguồn: finandlife|Analyst Thành|VFS Research

Tags: ,

Stocks

Phân tích và khuyến nghị CSM

by finandlife13/02/2014 09:03

Công ty cổ phần Cao su Miền Nam (CSM) vừa công bố báo cáo tài chính Quý 4 với kết quả kinh doanh năm 2013 tăng trưởng ấn tượng. Mặc dù doanh thu thuần chỉ tăng trưởng nhẹ so với năm trước do tình hình kinh tế khó khăn, sức mua sụt giảm, nhưng công ty vẫn có được lợi nhuận tăng trưởng đột biến nhờ giá cao su nguyên liệu giảm, tỷ giá ổn định và chi phí lãi vay giảm.

Dự báo năm 2014, doanh thu của công ty sẽ tăng khoảng 20% nhờ tiêu thụ sản phẩm mới của dự án nhà máy sản xuất lốp Radial. Lợi nhuận sau thuế có thể sụt giảm do doanh thu từ sản phẩm mới chưa đủ bù đắp chi phí lãi vay và khấu hao. Chúng tôi cho rằng, với dự án này, tiềm năng tăng trưởng của CSM trong trung và dài hạn là khá tích cực

Cuối cùng, các phương pháp định giá của chúng tôi cho kết quả giá cổ phiếu CSM trên thị trường đang ở mức khá sát với giá trị thực.

Kết quả kinh doanh 2013 ấn tượng

Công ty cổ phần Cao su miền Nam (CSM)  vừa công bố báo cáo tài chính Quý 4 với kết quả kinh doanh khả quan. Doanh thu thuần đạt 801.2 tỷ đồng, tăng 5.1% so với cùng kỳ nhờ đẩy mạnh công tác bán hàng, đặc biệt trong lĩnh vực xuất khẩu. Giá cả nguyên liệu, vật tư ổn định giúp giá vốn chỉ tăng 4.6%, lợi nhuận gộp đạt 218.6 tỷ đồng, tăng 6.52% so với cùng kỳ. Trong kỳ chi phí tài chính giảm mạnh (-56%) chủ yếu do chi phí lãi vay và chiết khấu thanh toán giảm, trong khi doanh thu tài chính tăng 16.7 tỷ đồng do trong kì công ty thoái vốn cổ phiếu Cao su Phước Hoà. Cùng với việc kiểm soát tốt chi phí bán hàng, chi phí quản lý, CSM đạt 140 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế, tăng 56.4% so với Quý 4/2012.

Luỹ kế cả năm 2013, CSM đạt 3,133.8 tỷ đồng doanh thu thuần, chỉ tăng gần 3% so với năm 2012 và đạt 96.4% kế hoạch đặt ra đầu năm. Giá nguyên liệu cao su sụt giảm giúp giá vốn giảm 1.73% đạt 2,296.4 tỷ đồng, lãi gộp tăng đến 18.4% đạt 837.4 tỷ đồng. Doanh thu tài chính tăng trong khi chi phí tài chính, đặc biệt là chi phí lãi vay sụt giảm mạnh, chi phí bán hàng đươc kiểm soát tốt… nên mặc dù chi phí quản lý doanh nghiệp tăng 30%, kết quả lợi nhuận trước và sau thuế của công ty vẫn tăng trưởng ấn tượng.

Cụ thể, lợi nhuận trước thuế năm 2013 đạt 481.4 tỷ đồng, tăng 42.7% so với cùng kỳ, lợi nhuận sau thuế đạt 360.6 tỷ đồng, tăng 42%, vượt 75% kế hoạch đặt ra đầu năm.

Uy tín thương hiệu, thị phần rộng lớn

Hiện nay, Casumina là doanh nghiệp săm lốp chiếm thị phần cao nhất cả nước với khoảng 33% thị phần. DRC đứng thứ 2 với khoàng 25%, SRC đứng thứ 3 với khoảng 10%. 32% còn lại thuộc về các doanh nghiệp nước ngoài và một số doanh nghiệp trong nước khác. Trong đó, CSM vượt trội trong phân khúc săm lốp xe máy. DRC chiếm lĩnh thị trường lốp xe tải nặngvà chuyên dụng. SRC có thế mạnh về lốp xe đạp. Xét riêng săm lốp ô tô và xe máy, CSM chiếm 25% thị phần săm lốp ô tô và 35% thị phần săm lốp xe máy trên phạm vi cả nước. Điều này cho thấy vị thế khá vững chắc của CSM trong ngành, giúp CSM duy trì được khả năng cạnh tranh cao trên thị trường hiện nay.

 

Với hơn 35 năm kinh nghiệm trong ngành sản xuất săm lốp, thương hiệu Casumina đã và đang trở nên quen thuộc với người tiêu dùng Việt Nam. Hiện tại, công ty có hơn 200 đại lý cấp I và đã xây dựng mạng lưới tiêu thụ thông qua các nhà phân phối tại 36 quốc gia và vùng lãnh thổ để quảng bá thương hiệu và tiêu thụ sản phẩm. Trong cơ cấu doanh thu hàng năm của CSM, tỷ trọng xuất khẩu chiếm khoảng 22-25%, tiêu thụ nội địa chiếm khoảng 75-80%. Mục tiêu đến năm 2015, doanh thu xuất khẩu sẽ chiếm khoảng 35% tổng doanh thu của công ty.

Doanh thu tăng trưởng ổn định

Doanh thu của CSM tăng trưởng tương đối ổn định từ năm 2007 đến nay với tốc độ tăng trưởng bình quân CAGR 8.2%/năm. Mặc dù tốc độ tăng trưởng doanh thu của CSM có xu hướng chậm lại kể từ năm 2009 do năng lực hoạt động đang dần đạt tối đa công suất thiết kế. Tuy nhiên, kết quả tăng trưởng 3 – 4% trong 2 năm 2012 và 2013 là đáng ghi nhận trong bối cảnh tổng cầu và sức mua trong nước sụt giảm, kinh tế thế giới còn nhiều khó khăn.

Chúng tôi cho rằng, bắt đầu từ năm 2014, doanh thu của CSM sẽ có sự cải thiện đáng kể nhờ dự án lốp Radial toàn thép sắp sửa hoàn thành và đi vào hoạt động trong Quý I/2014.

Săm lốp ô tô và xe máy là hai sản phẩm chủ lực của Casumina từ khi thành lập đến nay. Săm lốp ô tô chiếm khoảng 45 – 51% doanh thu thuần và 45 – 55% lợi nhuận gộp của CSM hàng năm. Trong khi đó, săm lốp xe máy chiếm khoảng 35 – 41% doanh thu thuần và 35 – 40% lợi nhuận gộp.

Nguyên liệu đầu vào chuyển biến tích cực

Nguyên liệu chính để sản xuất sản phẩm của công ty bao gồm: Cao su thiên nhiên, cao su tổng hợp, vải mành, than đen, thép tanh và một số loại hóa chất khác. Trong đó chỉ có cao su thiên nhiên công ty mua trong nước, còn lại hầu hết các nguyên vật liệu khác (chiếm khoảng 60% chi phí nguyên liệu) công ty phải nhập khẩu. Các nguyên vật liệu này chiếm đến 60 – 65% giá thành sản phẩm. Do đó, biến động giá nguyên vật liệu (đặc biệt là giá cao su) và tỷ giá ảnh hưởng đáng kể đến chi phí giá thành, biên lợi nhuận và hiệu quả hoạt động của công ty.

Năm 2010 – 2011, nhu cầu tăng cao ở các nước tiêu thụ chủ yếu như Trung Quốc, Hàn Quốc, EU khiến giá cao su thiên nhiên tăng cao. Cùng với việc tỷ giá trong nước  tăng mạnh khiến biên lãi gộp và hiệu quả hoạt động của công ty sụt giảm. Tuy nhiên, từ năm 2012 đến nay, giá cao su liên tục giảm trong khi tỷ giá ít biến động giúp công ty cải thiện biên lợi nhuận và hiệu quả hoạt động.

Dự báo giá cao su thiên nhiên thời gian tới sẽ chỉ biến động trong biên độ hẹp do nguồn cung vẫn ở mức cao giúp công ty tiếp tục có được lợi nhuận khả quan.

Nhà máy radial bắt đầu hoạt động năm 2014

Dự án Nhà máy sản xuất lốp Radial toàn thép công suất 1,000,000 lốp/năm được công ty bắt đầu đầu tư từ năm 2012 với tổng vốn đầu tư dự kiến lên tới 3,500 tỷ đồng hiện đang được công ty gấp rút hoàn thành giai đoạn 1 (công suất 350,000 lốp/năm).

Tổng vốn đầu tư trong giai đoạn này dự kiến khoảng 2,000 tỷ đồng. Đến thời điểm cuối năm 2013, CSM đã giải ngân 1,100 tỷ đồng cho dự án này. Dự kiến dự án sẽ hoàn thành và chạy thử trong Quý 1/2014. Từ đầu Quý 2/2014 sản phẩm mới sẽ bắt đầu được tiêu thụ trên thị trường. Sản lượng tiêu thụ dự kiến trong năm 2014 là 175,000 lốp (50% công suất thiết kế giai đoạn 1) tương đương trên 800 tỷ đồng doanh thu.

Chúng tôi cho rằng, với uy tín thương hiệu, thị phần và những đặc tính ưu việt so với lốp Bias thông thường, sản phẩm lốp Radial của công ty sản xuất ra sẽ được thị trường đón nhận tích cực. Doanh thu năm 2014 có thể tăng trưởng 20% nhờ tiêu thụ sản phẩm mới này.

Tuy nhiên, thời gian đầu nhà máy hoạt động, doanh thu tiêu thụ sản phẩm có thể không đủ bù đắp chi phí khấu hao và lãi vay. Điều này có thể ảnh hưởng không tốt đến biên lợi nhuận của công ty trong ngắn hạn.

Xu hướng hiện nay trên thế giới đang chuyển dần từ việc sử dụng các sản phẩm lốp Bias sang lốp Radial. Trong khi đó sản phẩm lốp Radial tiêu thụ ở Việt Nam hiện chủ yếu là nhập khẩu (đầu Quý 4/2013 có thêm sản phẩm lốp radial của DRC tuy nhiên sản lượng không đáng kể). Đặc biệt mức độ cạnh tranh ở phân khúc lốp ô tô tải Radial hiện tại tương đối thấp do các doanh nghiệp sản xuất lốp xe nước ngoài tại Việt Nam như Kumho… chủ yếu sản xuất lốp radial cho xe con và phục vụ thị trường xuất khẩu. Do đó, chúng tôi cho rằng dự án này sẽ mang lại triển vọng tăng trưởng cao cho CSM trong trung và dài hạn.

Gánh nặng vay nợ

Để đầu tư cho dự án lốp Radial, CSM phải vay thương mại khoảng 2,200 tỷ đồng. Điều này sẽ dẫn đến gánh nặng vay nợ cao cho công ty trong thời gian tới (Lãi vay VNĐ dài hạn khoảng 11%/năm, lãi vay USD dài hạn khoảng 5%/năm). Tính đến thời điểm cuối năm 2013, tỷ lệ nợ trên tổng tài sản và nợ vay trên tổng tài sản của CSM là 0.58 và 0.43, tăng mạnh so với thời điểm cuối năm 2012. Tỷ lệ nợ ngắn hạn trên tổng nợ cũng giảm dần do công ty chủ yếu vay nợ dài hạn để tài trợ cho dự án. Số dư vay nợ dài hạn đến thời điểm 31/12/2013 của công ty là 813 tỷ đồng, vay nợ ngắn hạn là 444.3 tỷ đồng.

Chi phí lãi vay năm 2013 giảm mạnh 47% so với năm 2012 tương đương gần 37 tỷ đồng do lãi vay giảm. Tuy nhiên, chi phí tài chính chỉ giảm 8% tương đương 8.6 tỷ đồng do công ty gia tăng các khoản chiết khấu thanh toán trong bối cảnh kinh tế khó khăn, sức mua suy giảm. Thời gian tới, chi phí lãi vay cho dự án Radial sẽ là gánh nặng  cho công ty, đặc biệt trong giai đoạn đầu của dự án. 

Chi phí quản lý tăng mạnh

Chi phí quản lý (chủ yếu là chi phí nhân viên quản lý) năm 2012 – 2013 tăng khá mạnh so với các năm trước, chiếm 5 – 7% tổng doanh thu của công ty (khá cao so với mức 2 – 3% của DRC) đẩy tổng chi phí hoạt động lên mức 13 – 14% tổng doanh thu, cao hơn so với mức 8 – 9% của năm 2010 – 2011.

Biên lợi nhuận có thể sụt giảm trong ngắn hạn

Có thể thấy biên lãi gộp của công ty tương quan khá chặt chẽ với biến động giá cao su tự nhiên. Năm 2011, giá cao su đạt đỉnh khiến biên lãi gộp chỉ đạt 9%. Năm 2012 – 2013 giá cao su giảm giúp biên lãi gộp cải thiện mạnh ở mức 23% và 27%.

Chúng tôi cho rằng, giá cao su thời gian tới sẽ tiếp tục diễn biến thuận lợi. Tuy nhiên bắt đầu từ năm 2014, chi phí khấu hao của nhà máy sản xuất lốp Radial sẽ làm giảm biên lãi gộp của công ty đặc biệt trong giai đoạn đầu của dự án (sản lượng tiêu thụ chưa đạt mức hoà vốn). 

Tổng tài sản tăng nhanh trong giai đoạn đẩy mạnh đầu tư trong khi doanh thu tăng trưởng chậm lại khiến hiệu suất sử dụng tài sản của CSM sụt giảm. Tuy nhiên với việc biên lãi gộp tăng mạnh, các chỉ tiêu tỷ suất sinh lời trên vốn của CSM được cải thiện đáng kể và ở mức cao so với các doanh nghiệp cùng ngành trong năm 2012 – 2013.

Năm 2014, biên lợi nhuận có thể sụt giảm do gánh nặng lãi vay và chi phí khấu hao. Tuy nhiên với việc tiêu thụ sản phẩm mới lốp Radial, doanh thu của CSM sẽ cải thiện đáng kể. Điều này sẽ giúp công ty tiếp tục có được tỷ suất sinh lời trên vốn cao.

So sánh với doanh nghiệp cùng ngành

So với các doanh nghiệp săm lốp nội địa đang niêm yết, các chỉ số ROE và ROA của CSM năm 2013 nhỉnh hơn so với DRC và vượt trội so với SRC do năm 2013 DRC đã bắt đầu gánh chịu chi phí lãi vay và khấu hao cho dự án lốp Radial.

Với hoạt động ổn định, tiềm năng tăng trưởng và tỷ suất sinh lời cao hơn, cổ phiếu DRC và CSM đang được thị trường định giá khá cao so với cổ phiếu SRC, thể hiện ở chỉ số PE & PB của 3 doanh nghiệp này.

Lợi nhuận năm 2014 có thể sụt giảm

Chúng tôi cho rằng, nhà máy mới sẽ đi vào hoạt động đúng tiến độ trong năm 2014 giúp công ty tiêu thụ được khoảng 125 – 150 ngàn lốp Radial. Doanh thu của công ty năm 2014 sẽ tăng khoảng 20% so với năm 2013 đạt 3,761 tỷ đồng. Chi phí khấu hao và lãi vay cho dự án sẽ làm giảm biên lãi gộp về khoảng 22%. Lợi nhuận sau thuế năm 2014 đạt khoảng 243.1 tỷ đồng, giảm 32.6% so với năm 2013.

Định giá tương đối hợp lý

Mô hình định giá theo phương pháp FCFF của chúng tôi (tốc độ tăng trưởng dài hạn 5%/năm, chi phí sử dụng vốn bình quân WACC 17.28%) cho kết quả giá trị cổ phiếu CSM ở mức 40,714 đồng/cổ phiếu, thấp hơn 2% so với giá đóng cửa ngày 07/02/2014.

Trong khi đó, phương pháp định giá so sánh tương đối PE (trung bình các công ty cùng ngành trong khu vực) cho kết quả cao hơn ở mức 47,496 đồng/cổ phiếu, cao hơn 14.4% so với giá đóng cửa ngày 07/02/2014.

Giá trị cổ phiếu CSM khi kết hợp cả 2 phương pháp định giá này theo tỷ trọng 50:50 là khoảng 44,105 đồng, cao hơn 6.3% so với giá đóng cửa ngày 07/02/2014.

Nguồn: finandlife|VFS Research

Tags: , , ,

Stocks

Phân tích và khuyến nghị BMC

by finandlife07/01/2014 18:26

Ngay sau khi SQC, công ty Khoáng sản Sài Gòn-Quy Nhơn, đơn vị lớn nhất trong sản xuất Titan tại Bình Định công bố quyết định “dừng sản xuất vì lý do thiếu nguyên liệu”. Rất nhiều nhà đầu tư đã đặt câu hỏi liệu BMC, công ty Khoáng sản Bình Định, liệu có rơi vào tình trạng tương tự.

Bản thân tôi là một nhà phân tích từng khuyến nghị nhà đầu tư mua vào BMC trước đây, cũng đã có cơ hội đi thăm nhà máy sản xuất xỉ tại Cụm Công nghiệp Cát Nhơn. Tôi có một số cập nhật sau đây, hi vọng sẽ giải quyết những vướn mắc của nhà đầu tư.

  • BMC là một doanh nghiệp hiệu quả và minh bạch nhất trong lĩnh vực sản xuất titan nói riêng và khoáng sản nói chung.
  • BMC đã bị loại ra khỏi danh mục theo dõi từ quý 1 năm 2013.
  • Bị loại không vì doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả hay bị rủi ro bất thường nào, mà chủ yếu vì xu hướng ngành đang xấu đi.
  • Cụ thể: giá xỉ titan vẫn còn trong xu hướng giảm; sản lượng sản xuất ra không còn tiêu thu tốt như trước; nhà nước đang có xu hướng siết những doanh nghiệp khoáng sản nói chung.
  • Về xu hướng thị trường ngành, một người làm trong ngành lâu năm cho rằng xu hướng khó khăn vẫn còn trong 2014, nếu có chăng từ quý 4 năm 2014 mới có những chuyển biến. Từ 2014, BMC có cái lợi là thuế xuất khẩu Ilmenite đã giảm từ 40% xuống 30%.

Hi vọng cập nhật của finandlife sẽ phần nào giúp nhà đầu tư có câu trả lời về case BMC. 

 

Nguồn: finandlife

Tags:

Stocks

GAS|Báo cáo cập nhật lần 2

by finandlife07/01/2014 08:56

Tổng Công ty Khí Việt Nam (GAS) lại tiếp tục hoàn thành một năm kinh doanh ấn tượng nữa. Điểm nổi bật trong năm 2013 là giá bán khí khô tăng nhanh hơn so với chi phí mua vào và sản lượng LPG tự sản xuất từ nhà máy Dinh Cố cải thiện. Đây cũng là hệ quả từ vị thế gần như độc quyền trong hoạt động sản xuất, kinh doanh các sản phẩm khí ở Việt Nam của GAS. Kết thúc năm, GAS tiếp tục duy trì lượng tiền mặt lớn, tạo thuận lợi cho Công ty trong tài trợ những dự án lớn mà Công ty đang theo đuổi, thêm vào đó, nhà đầu tư cũng có thể kỳ vọng một mức cổ tức cao hơn so với kế hoạch.

Chúng tôi cho rằng GAS sẽ tiếp tục duy trì kết quả kinh doanh tốt trong những năm tới. Hiện GAS cũng đã có những bước chuẩn bị để có thể đáp ứng nhu cầu tăng lên trong tương lai bằng những dự án nâng năng lực chế biến, dự kiến hoàn thành năm 2016. 

Mô hình định giá FCFF và so sánh PE, PB của chúng tôi cho thấy giá trị của công ty đã tăng lên 11% so với cập nhật lần đầu vào tháng 06/2013. Và hiện thị giá đang khá sát so với giá trị Công ty. Chúng tôi tiếp tục khuyến nghị nhà đầu tư nắm giữ GAS. 

-------------------------------------------------------

LỢI NHUẬN TIẾP TỤC TĂNG TRƯỞNG ẤN TƯỢNG

Quý 3/2013, PV Gas đạt 17,067 tỷ đồng doanh thu thuần, tăng 4.3% so với cùng kỳ nhờ sản lượng tiêu thụ và giá bán sản phẩm tăng (mặc dù 6 tháng đầu năm doanh thu sụt giảm 13.3% do doanh thu bán khí khô từ mỏ Malay – Thổ Chu chuyển sang ghi nhận tại công ty mẹ PVN). Biên lãi gộp đạt 25.4% cải thiện so với mức 23.1% cùng kỳ nhờ cơ chế giá bán tăng nhanh hơn giá vốn giúp công ty ghi nhận 4,327 tỷ đồng lợi nhuận gộp, tăng 14.6% so với cùng kỳ.

Kiểm soát tốt chi phí giúp công ty đạt 3,742 và 3,073 tỷ đồng lợi nhuận trước và sau thuế, tăng 17.8% và 19.2% so với Quý 3/2012.

Luỹ kế 9 tháng đầu năm 2013, PV GAS đạt 48,869 tỷ đồng doanh thu thuần, giảm 8% so với cùng kỳ. Biên lãi gộp cải thiện mạnh ở mức 27.7% so với mức 20.7% 9 tháng đầu năm 2012 giúp lợi nhuận gộp đạt 13,532 tỷ đồng, tăng 23.2%.

Sau khi trừ đi các chi phí phát sinh, PV GAS ghi nhận 10,452 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế (trong đó có 1,130 tỷ đồng lợi nhuận khác từ việc hoàn nhập quỹ phát triển công nghệ trong Quý 1/2013) tăng 39.2% so với cùng kỳ, vượt 36% kế hoạch lợi nhuận sau thuế cả năm.

Tại hội nghị tổng kết hoạt động sản xuất kinh doanh 2013 và triển khai kế hoạch 2014 mới đây của PV GAS, Tổng giám đốc Đỗ Khang Ninh báo cáo: Năm 2013, tổng doanh thu của PV GAS đạt trên 65,000 tỷ đồng (bằng 118% kế hoạch), lợi nhuận trước thuế đạt gần 15,000 tỷ đồng (153% kế hoạch) và lợi nhuận sau thuế đạt gần 12,000 tỷ đồng (153% kế hoạch). PV Gas tiếp tục hoàn thành và hoàn thành vượt mức hầu hết các chỉ tiêu kế hoạch, đặc biệt một số chỉ tiêu đã về đích trước thời hạn 2-5 tháng.

GÍA BÁN VÀ SẢN LƯỢNG TIÊU THỤ KHÍ KHÔ TĂNG

Năm 2013, nhu cầu tiêu thụ khí của các nhà máy điện và các hộ công nghiệp ở mức cao giúp PV GAS gia tăng sản lượng tiêu thụ khí khô. 6 tháng đầu năm, sản lượng tiêu thụ khí khô đạt 5,163 triệu m3, vượt 17% kế hoạch 6 tháng đầu năm và tăng 8% so với cùng kỳ năm 2012. 6 tháng cuối năm, công ty đặt kế hoạch tiêu thụ 4,596 triệu m3 khí khô, cả năm ước đạt 9,665 triệu m3, vượt 7% kế hoạch đầu năm và tăng 5.4% so với thực hiện năm 2012.

Với việc bắt đầu khai thác dòng khí mới từ mỏ Hải Thạch – Mộc Tinh (công suất 2 tỷ m3/năm) vào đầu tháng 8/2013, chúng tôi cho rằng PV GAS sẽ hoàn thành vượt mức kế hoạch tiêu thụ khí khô 6 tháng cuối năm. Tổng mức khí khô tiêu thụ cả năm 2013 sẽ ở mức khoảng 9,815 triệu m3, tăng khoảng 7% so với năm 2012.

Giá khí khô năm 2013 tiếp tục tăng theo lộ trình. Trong khi giá mua khí của PV GAS từ các chủ mỏ chỉ tăng khoàng 2%/năm theo các hợp đồng đã ký thì giá bán lại tăng nhanh hơn, đặc biệt là giá bán cho các hộ công nghiệp. Cụ thể, từ ngày 1/3/2013, PV GAS tăng 4% giá khí bán cho nhà máy điện (chiếm khoảng 88% tổng sản lượng), 2% giá khí bán cho nhà máy đạm (chiếm khoảng 8% tổng sản lượng), và trung bình khoảng 20% cho sản xuất CNG và các hộ công nghiệp (Qua PGD, PGS, CNG). Điều này giúp biên lợi nhuận từ mảng khí khô của PV GAS cải thiện mạnh từ mức 24% năm 2012 lên 34.1% 6 tháng đầu năm 2013.

SẢN LƯỢNG LPG TỰ SẢN XUẤT TĂNG

Nguồn cung LPG của PV GAS hàng năm đến một phần từ sản lượng LPG tự sản xuất tại nhà máy Dinh Cố (khoảng 250 – 300 ngàn tấn/năm), một phần từ phân phối LPG tại nhà máy Dung Quất (khoảng 90 ngàn tấn/năm) và phần lớn từ nhập khẩu (khoảng 700 – 800 ngàn tấn/năm).

Đối với hoạt động nhập khẩu và phân phối LPG tại nhà máy Dung Quất, PV GAS thường nhận phần chênh lệch giữa giá bán và giá mua (premium) tương đối ổn định (khoảng 70 – 80 USD/tấn). Do đó, lợi nhuận thu được từ hoạt động này ít chịu biến động bởi giá LPG thế giới.

6 tháng đầu năm 2013 biên lãi gộp của hoạt động sản xuất và kinh doanh sản phẩm LPG tăng mạnh từ mức 13.3% năm 2012 lên 16.1%. Nguyên nhân theo chúng tôi là do sản lượng LPG tự sản xuất từ nhà máy Dinh Cố với biên lợi nhuận cao tăng trong 6 tháng đầu năm và giá LPG thế giới giảm (trong khi premium cố định).

Theo dự báo của PVGAS, thị trường LPG nội địa năm nay và năm tới sẽ tăng trưởng nhưng ở mức không cao (2%/năm), một số công ty có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động trong nước được hỗ trợ từ công ty mẹ ở nước ngoài về cả tài chính lẫn nguồn hàng sẽ làm gia tăng áp lực cạnh tranh cho công ty. Do đó, chúng tôi cho rằng, sản lượng tiêu thụ LPG của công ty năm 2013 sẽ ở mức tương đương năm 2012 (khoảng 1 triệu tấn). Biên lãi gộp cả năm 2013 của hoạt động này sẽ cải thiện ở mức 14 – 15% nhờ sản lượng LPG tự sản xuất gia tăng.

 

TRIỂN VỌNG TĂNG TRƯỞNG DÀI HẠN

Hiện tại, PVGAS đang tập trung triển khai hàng loạt các dự án đầu tư nâng cao năng lực chế biến, thu gom khí khô, nhập khẩu LNG để bù đắp thiếu hụt cho thị trường, nổi bật như:

  • Dự án Nam Côn Sơn 2: thu gom khí từ các mỏ thuộc bể Nam Côn Sơn cùng với dự án khí Nam Côn Sơn (một phần khí của dự án từ mỏ Hải Thạch – Mộc Tinh đã được đưa vào bờ vào tháng 8/2013). Dự án được dự kiến hoàn thành trong năm 2016, có công suất 7 tỷ m3 khí/năm, tổng mức đầu tư 1,306 triệu USD
  • Dự án Lô B Ô Môn đưa khí Lô B thuộc mỏ Malay – Thổ Chu về khu vực Cần Thơ, Tây Nam Bộ dự kiến hoàn thành năm 2016 với công suất 6.4 tỷ m3 khí/năm, tổng mức đầu tư dự kiến khoảng 1,118 triệu USD.
  • Dự án LNG 1 triệu tấn tại Bà Rịa - Vũng Tàu với tổng mức đầu tư trên 220 triệu USD, dự kiến hoàn thành năm 2017. Đây là dự án nhập LNG từ nước ngoài về Việt Nam đầu tiên để bổ sung cho phần khí thiếu hụt trong nước…

Các dự án này sau khi hoàn thành sẽ giúp PVGAS nâng tổng công suất thu gom khí khô từ 11 tỷ m3/năm lên 24.4 tỷ m3/năm. Cùng với dự án nhập khẩu LNG, chúng tôi cho rằng tiềm năng tăng trưởng  của PVGAS trong dài hạn là rất lớn.

Với kết quả kinh doanh tăng trưởng ấn tượng, lượng tiền mặt của công ty cải thiện đáng kể. Điều này giúp công ty nâng cao khả năng thanh toán và đảm bảo nguồn tiền tài trợ cho các dự án đầu tư lớn thời gian tới.

KẾ HOẠCH KINH DOANH 2014 THẬN TRỌNG

Năm 2014, PVGAS tiếp tục đặt ra kế hoạch kinh doanh tương đối thận trọng. Sản lượng sản xuất và tiêu thụ khí khô dự kiến đạt 9,510 triệu m3 (Khí Cửu Long 980 triệu m3, khí Nam Côn Sơn 6,581 triệu m3, và PM3 1,950 triệu m3). Sản lượng tiêu thụ LPG đạt 940,000 tấn (tự sản xuất 212,000 tấn, nhập khẩu 750,000 tấn, Dung Quất 84,000 tấn). Sản lượng Condensate sản xuất tại Dinh Cố đạt khoảng 47,200 tấn.

Giá mua khí khô tiếp tục tăng khoảng 2% so với năm 2013. Giá bán khí cho điện trong bao tiêu tăng 2%, ngoài bao tiêu tăng 4%. Giá bán cho đạm tăng 2%. Giá bán cho sản xuất CNG tăng 5%. Giá bán cho hộ công nghiệp (qua PGD) tăng 5%.

Giá bán Condensate khoảng 550 USD/tấn. Premium từ kinh doanh LPG nhập khẩu khoảng 80 USD/tấn, từ kinh doanh LPG Dung Quất khoảng 65 USD/tấn.

Doanh thu thuần cả năm 2014 ước đạt 62,444 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế ước đạt 10,537 tỷ đồng, lợi nhuận sau thuế 8,616 tỷ đồng. PV GAS cũng nâng tỷ lệ chi trả cổ tức kế hoạch năm 2014 lên 33% (kế hoạch năm 2013 là 20% đã tạm ứng qua 2 đợt).

Với kết quả kinh doanh ấn tượng năm 2013, chúng tôi cho rằng PVGAS sẽ tiếp tục hoàn thành vượt kế hoạch năm 2014 nhờ sản lượng sản xuất và tiêu thụ khí khô tăng do dòng khí mới từ mỏ Hải Thạch – Mộc Tinh và nhu cầu ngày càng tăng của các nhà máy điện và hộ công nghiệp.

ĐỊNH GIÁ

Giá trị cổ phiếu PVGAS theo phương pháp so sánh PE, PB của chúng tôi lần cập nhật này đạt khoảng 66,600 đồng/cổ phiếu, cao hơn 11% so với lần cập nhật trước (Tháng 6/2013).

Với dữ liệu đầu vào đầy đủ hơn, lần cập nhật này chúng tôi tiến hành định giá cổ phiếu GAS theo phương pháp chiết khấu dòng tiền FCFF (WACC 18.47%, tốc độ tăng trưởng dài hạn 5%/năm…) Theo đó, giá trị cổ phiếu PVGAS theo phương pháp này ở mức khoảng 67,500 đồng, cao hơn 1.5% so với giá đóng cửa ngày 02/01/2014. Do đó, chúng tôi cho rằng, cổ phiếu GAS đang được thị trường định giá khá sát với giá trị thực.

Bài liên quan:

Nguồn: VFS Research|finandlife

Tags: ,

Stocks

AUTOFEED

DISCLAIMER

Blog của HUỲNH NGỌC THƯƠNG, chuyên viên
phân tích đầu tư chuyên nghiệp, hơn 12 năm kinh nghiệm phân tích đầu tư tại thị trường Việt Nam. Blog phục vụ cho mục đích lưu trữ, tham khảo thông tin và chia sẻ góc nhìn cá nhân (không đại diện cho tổ chức nơi tác giả đang làm việc). Tác giả không đảm bảo tính chắc chắn và không chịu trách nhiệm khi người sử dụng thông tin từ website cho hoạt động đầu tư, mua bán chứng khoán của mình.

 

LINKEDIN

Designed by: Nguyễn Chí Hiếu