Cổ phiếu thanh khoản được ưa chuộng

by Admin24/04/2013 21:02

Nếu chúng ta đã xác định đây là thị trường tăng giá thì không việc gì chúng ta cứ ôm mãi những cổ phiếu thanh khoản thấp nhất thị trường. 

Trong một nghiên cứu từ cuối năm 2011, chúng tôi đã phát hiện ra rằng, “nhà đầu tư chỉ nên đầu tư vào những cổ phiếu thuộc nhóm có thanh khoản cao trong thị trường tăng trưởng”.

Thông thường, nhà đầu tư có vô vàn lý do biện giải cho quyết định đầu tư của mình. Người chọn cổ phiếu “nóng” thì bảo rằng “không lý do gì để mua vào một cổ phiếu tốt mà không tăng giá”, người chọn cổ phiếu cơ bản thì lại tranh luận “tôi chỉ mua vào những cổ phiếu có kết quả kinh doanh tốt, trả cổ tức ổn định và có một triển vọng thuyết phục”.

Chúng tôi đã tìm ra mối tương quan tương đối lớn giữa thanh khoản cổ phiếu và biến động giá cổ phiếu trong cả chu kỳ thị trường tăng bền vững (chu kỳ tăng giá hình thành 5 sóng rõ ràng của Elliot, sóng tăng 1, 3, 5; sóng giảm 2, 4), sóng tăng hồi sau chu kỳ giảm giá và sóng giảm.

Một số kết quả nghiên cứu chính mà chúng tôi rút ra như sau:

§  Các cổ phiếu có thanh khoản càng cao thì có độ nhạy với giá càng lớn;

§  Mối quan hệ giữa thanh khoản và biến động giá trong thời kỳ tăng giá (bull market) rõ ràng hơn so với thời kỳ giảm giá (bear market)

Biểu đồ 1: Mối quan hệ giữa biến động giá cổ phiếu với nhóm cổ phiếu thanh khoản cao, thanh khoản trung bình và thanh khoản thấp

§  Trong thị trường tăng trưởng bền vững, Top cổ phiếu có thanh khoản cao nhất thường là những cổ phiếu tăng điểm mạnh mẽ nhất. Ở sóng thứ 1, nhà đầu tư nên đầu tư vào cổ phiếu trong Top thanh khoản. Ở sóng thứ 3, nhà đầu tư nên đầu tư vào cổ phiếu trong Top thanh khoản cao và thanh khoản trung bình, đây cũng là thời kỳ mức tăng đồng đều và ít rủi ro nhất. Ở sóng thứ 5, mức độ tương quan giữa giá và thanh khoản thấp nhất. Đây là kỳ có mức độ phân hóa rất lớn, rủi ro lớn nhất vẫn nằm ở những cổ phiếu thanh khoản thấp nhất, để tối đa hóa lợi suất đầu tư, nhà đầu tư vẫn nên đầu tư vào cổ phiếu trong Top thanh khoản.

§  Ngay cả các sóng hồi sau chu kỳ giảm kéo dài, những cổ phiếu tăng trưởng mạnh mẽ nhất vẫn là những cổ phiếu có tính thanh khoản cao nhất.

§  Trong thị trường giảm, các cổ phiếu trong Top thanh khoản chịu áp lực giảm mạnh hơn, nhưng mức độ tương quan giữa thanh khoản và mức độ giảm điểm trong thời kỳ này không lớn lắm.

Khi so sánh những kết quả trên với phân tích hành vi nhà đầu tư, chúng tôi cũng nhận thấy có những sự tương đồng. Chẳng hạn, hầu hết nhà đầu tư tham gia thị trường đều mong giá cổ phiếu mình mua vào tăng điểm. Những cổ phiếu có thanh khoản cao nhất thị trường cho thấy mức độ quan tâm của số đông nhà đầu tư vào cổ phiếu này, do vậy, đây là những cổ phiếu có độ nhạy cao nhất cũng là điều dễ hiểu. Trong thị trường tăng giá, động cơ tối đa hóa lợi nhuận của nhà đầu tư sẽ dẫn đến quyết định bỏ tiền vào những cổ phiếu dạng này, vì dễ giải ngân, dễ giao dịch và có độ nhạy cao. Chính hành động này của số đông nhà đầu tư lại quay trở lại tác động lên giá cổ phiếu và làm cho những cổ phiếu có thanh khoản cao thường leo giá nhanh nhất thị trường.

Biểu đồ 2: Mối quan hệ giữa tỷ suất sinh lợi và khối lượng giao dịch bình quân phiên từ ngày 28/11/2012 đến ngày 11/1/2013

Ngoài ra, khi xem xét tỷ suất sinh lời, nhóm cố phiếu thanh khoản cao cũng chính là nhóm có tỷ suất sinh lời cao.

Theo biểu đồ 2, tỷ suất sinh lời trung bình của Top 20% thanh khoản toàn thị trường là 33,6%, trong khi đó, nhóm thanh khoản trung bình có tỷ suất sinh lời 20,8% và nhóm thanh khoản thấp chỉ có tỷ suất sinh lời 9,3%. Điều này có nghĩa là: trong sóng tăng vừa qua, những nhà đầu tư nào nắm giữ cổ phiếu nằm trong Top thanh khoản sẽ có được một tỷ suất sinh lời vượt trội so với thị trường và so với những cổ phiếu khác.

Như vậy, kết quả của nghiên cứu mà chúng tôi đã từng làm năm 2011 tiếp tục đúng cho sóng tăng vừa qua, và nếu chúng ta đã xác định đây là thị trường tăng giá (bull market) thì không việc gì chúng ta cứ ôm mãi những cổ phiếu thanh khoản thấp nhất thị trường.

Nguồn: finandlife|một version khác trên Báo Đầu Tư Chứng Khoán      

Tags:

StockAdvisory

Đòn cân nợ và chiến lược đầu tư

by Admin24/04/2013 19:22

Trong bối cảnh lãi suất đang cao ngất ngưởng hiện nay, nợ vay bỗng chốc trở thành gánh nặng không chỉ cho các doanh nghiệp mà còn cho cả NĐT chứng khoán (viết từ năm 2011)

Vậy nợ vay ảnh hưởng thế nào đến giá CP của chính DN? Đòn cân nợ này ảnh hưởng đến hệ số rủi ro của NĐT ra sao?

Nghiên cứu này sử dụng dữ liệu nợ vay, tài sản và biến động giá của tất cả CP niêm yết qua 2 giai đoạn: giai đoạn tăng bắt đầu từ ngày 24-2-2009 đến ngày 22-10-2009 và giai đoạn giảm bắt đầu từ ngày 22-10-2009 đến nay. Trong từng giai đoạn, việc nghiên cứu lại được tiến hành trên 3 nhóm CP có mức độ sử dụng nợ khác nhau.

Cụ thể giai đoạn tăng: nhóm DN có nợ vay trên tổng tài sản dưới 25%; nhóm DN có nợ vay trên tổng tài sản từ 25-50%; nhóm DN có nợ vay trên 50% tổng tài sản. Giai đoạn giảm: nhóm DN có nợ vay trên tổng tài sản dưới 20%; nhóm DN có nợ vay trên tổng tài sản từ 20-40%; và nhóm DN có nợ vay trên 40% tổng tài sản. Biến động giá của các CP được so sánh với HNX Index.

Kết quả cho thấy, tỷ lệ nợ vay trên tổng tài sản của tất cả DN niêm yết trên thị trường trong giai đoạn tăng trưởng là 36,9% cao hơn giai đoạn suy thoái (31,8%) (biểu đồ 1). Đây là điều dễ hiểu vì trong giai đoạn tăng trưởng, nền kinh tế được hỗ trợ bởi mức lãi suất thấp, nhu cầu toàn xã hội tăng cao, tạo điều kiện thuận lợi cho các DN mở rộng đầu tư, mở rộng sản xuất, tăng cường vay nợ. Còn trong giai đoạn giảm, lãi suất tăng cao, nhu cầu xã hội thấp, việc sản xuất, đầu tư gặp khó khăn, chiến lược ưu tiên là cắt giảm chi phí, thu hẹp hoạt động, giảm nợ vay.

Biểu đồ 1:

  

Phân tích tương quan cho thấy tỷ lệ nợ vay trong cơ cấu tài sản của DN có ảnh hưởng đến mức độ biến động giá CP trên thị trường. Mối liên quan này rõ ràng hơn trong giai đoạn thị trường giảm khi hệ số tương quan trong giai đoạn này là -0,15, trong khi đó hệ số này trong giai đoạn thị trường tăng chỉ là 0,07. Dấu (-) của hệ số tương quan trong thị trường giảm cho biết những DN sử dụng nhiều nợ vay chịu áp lực giảm giá nhiều hơn so với các DN có cơ cấu nợ vay ít hơn. Dấu (+) của hệ số tương quan trong thị trường tăng cho biết những DN sử dụng nhiều nợ vay lại có khả năng tăng giá tốt hơn. Kết quả trên một lần nữa được khẳng định khi chúng ta xem xét xác suất lựa chọn CP có biến động giá tích cực hơn chỉ số chung toàn thị trường.

Trong giai đoạn thị trường bất lợi, xác suất chọn phải CP giảm giá mạnh hơn HNX Index ở nhóm nợ vay cao nhất lên đến 44,2%, xác suất này giảm dần ở nhóm nợ vay trung bình (38,3%) và chỉ còn 17,5% ở nhóm nợ vay thấp nhất. Như vậy, trong giai đoạn thị trường giảm, NĐT nên trú ẩn vào các CP có tình hình tài chính lành mạnh, tỷ lệ vay nợ thấp và tránh xa những CP có đòn cân nợ cao (biểu đồ 2).

Biểu đồ 2:

Thế nhưng, chiến lược trên không phải là chìa khoá vạn năng trong bất kỳ tình hình thị trường nào. Ở giai đoạn tăng, việc đặt cược vào nhóm CP có đòn cân nợ lớn không hẳn sẽ mang lại kết quả đáng buồn như trong giai đoạn thị trường giảm. Kết quả nghiên cứu cho thấy, nhóm CP sử dụng nợ vay cao nhất có xác suất chiến thắng thị trường cao nhất (61%); nhóm sử dụng nợ vay thấp nhất xác suất này là 60%, nhóm vay nợ trung bình thấp nhất (chỉ 51,6%) (biểu đồ 3).

Biểu đồ 3:

 

Như vậy, để tận dụng những thuận lợi của thời kỳ tăng trưởng như lãi suất thấp, nhu cầu xã hội cao…, bên cạnh danh mục truyền thống đầu tư vào những CP vững mạnh, khả năng tạo tiền tốt, tỷ lệ nợ vay thấp, NĐT nên dành một phần danh mục của mình cho những CP có kế hoạch kinh doanh đột biến, những CP có nhiều tham vọng, dám sử dụng nhiều nợ vay nhằm tăng hiệu quả đa dạng hóa giúp mang lại suất sinh lợi cao nhất cho NĐT.

 

Kết quả nghiên cứu trên cùng với kết luận của Modigliali và Miller (MM): “Trong thị trường hoàn hảo, việc vay nợ để mua vào CK của NĐT cá nhân không khác biệt so với việc vay nợ của chính DN phát hành CP đó”. Nghĩa là NĐT có thể tự tạo đòn bẩy tài chính thay cho DN. Trong bối cảnh giao dịch ký quỹ (margin) sắp được hợp pháp hóa, NĐT nên bắt đầu nhìn nhận lại hệ số rủi ro tài chính của mình, trong đó nên xem xét thêm đòn cân nợ vay tại các DN đầu tư để tránh ước lượng mức rủi ro quá thấp so với nguy cơ thật sự phải chịu. 

Nguồn: finandlife|một version khác trên Báo Đầu Tư Tài Chính

Tags:

StockAdvisory

AUTOFEED

DISCLAIMER

Blog này phục vụ cho mục đích lưu trữ, tham khảo thông tin và thảo luận. Chúng tôi không đảm bảo tính chắc chắn và không chịu trách nhiệm khi người sử dụng thông tin từ website cho hoạt động đầu tư, mua bán chứng khoán của mình.

Designed by: Nguyễn Chí Hiếu