Khổ tận cam lai chưa các pác?

by finandlife10/07/2013 17:37

Gởi liên bộ Tài Chính Công Thương (TCCT)

Chúng tôi là những nhân viên phân tích, tự doanh, môi giới, dịch vụ của một công ty chứng khoán. Với rất nhiều người, chúng tôi được gọi là những chiến binh, mà thật vậy chứ không phải đùa, thị trường chứng khoán giảm liên tục 6 năm qua, nhà đầu tư bám sàn chỉ còn lèo tèo vài người, giá trị giao dịch hàng ngày chỉ có vậy mà số lượng công ty chứng khoán thì các bác đã biết rồi, hàng trăm công ty. Nói chung nhìn sự anh dũng, kiên trì bám nghề 6 năm liên tiếp trong suy thoái cũng đủ để trao huân chương “lính chì” cho chúng tôi rồi.

Gần 5 tháng đầu năm 2013, thị trường chứng khoán tăng điểm mang theo bao nhiêu là kỳ vọng vào sự khởi sắc từ đây của thị trường, người ta nói “qua cơn bĩ cực đến hồi thái lai”. Niềm vui chưa đầy gang tay thì bác Ben Benanke hô toán lên sẽ từng bức cắt giảm chương trình mua trái phiếu. Mà các bác biết đấy, Mỹ người ta nói là người ta “mần” chứ không nói chơi. Do vậy mà dân đầu tư toàn cầu rơi vào hỗn loạn, khá nhiều quỹ tính tới chuyện rút vốn khỏi thị trường mới nổi để chống đỡ các vấn đề ở chính quốc. Các bác thấy chưa, chỉ có mỗi cái động thái ở tận đẩu, tận đâu bên nửa vòng trái đất, mà chúng tôi phải chịu khổ, chịu sở như bây giờ. Rồi cái gì đến cũng đến, tụi Tây rút vốn thật, nó thoát không chỉ ở thị trường cổ phiếu mà còn cả ở thị trường trái phiếu. Động thái thoái vốn không chỉ làm thị trường rơi vào giảm điểm mà nó còn kéo theo bao nhiêu là hệ lụy. Trước đây, Tây hăng mua, hăng bán thì chúng tôi còn kiếm chút cháo từ tiền phí giao dịch, vì giao dịch của Tây chiếm đến 20% toàn thị trường còn gì. Giờ Tây mà rút thì chỉ có móm.

Bao nhiêu đó thôi chúng tôi chưa sợ đâu, sự đời đúng là “họa vô đơn chí”, tụi Tây bán tạo áp lực rút USD ra khỏi nước, làm cho cầu USD theo đó tăng lên. Ngoài ra, cán cân thương mại bỗng dưng quay trở lại thâm hụt, rồi lãi suất thì cắt giảm “sát gốc”. Không những thế, thị trường vàng không biết duyên cớ gì mà chênh lệch trong nước - thế giới lên đến 8 triệu đồng/lượng, làm người ta “suy diễn” bà con mua USD để nhập lậu vàng về bán. Haizzz… thế thì cầu đồng USD cao là phải, thảo nào USD chẳng tăng giá và nhảy múa thời gian qua. Mà một khi USD tăng giá thì thôi rồi, bao nhiêu là tin xấu đi kèm sau đó sẽ lại đổ lên đầu lên cổ chúng tôi. Mà đấy là do người ta, chúng tôi có làm gì đâu chứ, chúng tôi vẫn hoạt động lành mạnh, đàng hoàng, chăm sóc thượng đế tốt thế kia mà. Sao lại làm thị trường của chúng tôi giảm điểm để chúng tôi có lúc phải thiếu ăn chứ, chẵng nhẽ chỉ vì mỗi cái mác “phong vũ biểu của nền kinh tế” mà đè chúng tôi mãi thế này sao?

Tâm sự dòng dài thế để các bác hiểu nỗi thống khổ của chúng tôi. Rồi biết đâu, có bác đồng cảm, chìa tay ra “cứu vớt” thì sao!? Trong mấy năm vừa rồi không hiểu tại làm sao mà cứ mỗi lần liên bộ TCCT cho phép tăng giá xăng là y như rằng thị trường chứng khoán ngày hôm sau lại khởi sắc mạnh mẽ. Trong cái thời buổi loạn lạc này, dân chứng khoán “bệnh hoạn” đầy người, không còn biết phải bám víu vào đâu, thôi thì “cứ vái tứ phương” vậy! Chúng tôi mạo muội đề nghị các Bộ Trưởng tăng giá xăng giúp, tăng càng mạnh càng tốt, vì cứ theo mối quan hệ ở trên thì thể nào chúng tôi cũng được cứu!

Tình thế đã gay go lắm rồi! Mong các bác quyết liệt giúp ạ! Các bác cứ ra rả bảo thị trường chứng khoán là một kênh huy động vốn dài hạn cho nền kinh tế kia mà. Tại sao một kênh tài trợ quan trọng như vậy lại không được quan tâm, chăm sóc chứ? Chẵng nhẽ các bác không muốn nhìn thấy những doanh nghiệp đại gia lớn nhanh như thổi nhờ thị trường chứng khoán sao? Một khi các bác cho rằng nó quan trọng thì các bác phải có chính sách nuôi dưỡng tất cả cơ sở hạ tầng liên quan đến nó, đúng không ạ? Trên thị trường tài chính, ai mà không biết yếu tố quan trọng nhất là “con người” chứ, giờ nhân tố đó đang phải sống lây lất, thu nhập, tài sản ngày càng teo tóp thế kia, không thấy đáng thương sao? Các bác biết không, đầu năm nay, chúng tôi đã phải ký tên vào bảng cảm tử rằng, bằng mọi giá phải đạt kế hoạch kinh doanh năm 2013 do Hội Đồng Quản Trị đặt ra. Nếu không đạt được thì đồng nghĩa năm 2013 là năm phán quyết, sang 2014 sẽ không còn công việc nào nữa, không còn đồng lương (dù rất bèo) nào nữa, chúng tôi phải làm việc gì khác bây giờ trong khi đầu óc của chúng tôi chỉ nhảy những con số, hả các bác?

Cuối cùng, các bác đã từng đặt chúng tôi vào đối tượng “bị trừng phạt” khi thị trường chứng khoán mang đến cơ hội làm giàu chớp nhoáng cho hàng loạt con người, giai đoạn trước 2007. Nhưng các bác có biết không, rất nhiều con người trong chúng tôi hiện nay không được trải qua bất cứ một giai đoạn vàng son nào. Chúng tôi tốt nghiệp ra trường sau năm 2007 thì thử hỏi bao nhiêu tiền bạc của chúng tôi đã bị nướng vào những con sóng hả các bác? Giờ đây còn mỗi “nồi cháo trắng” nuôi đứa con lên ba, nhẽ nào các bác vẫn chưa thấy “hã dạ” sao? Nếu các bác thương chúng tôi, thôi hãy tăng giá xăng, tăng cho thật mạnh vào, có như vậy chúng tôi có khi còn được cứu sống, và lây lất qua năm tàn, đợi trái ngọt về sau.

Đồng cảm ơn các đồng chí Bộ Trưởng

Tags:

Economics | Psychology

ETFs Training 02/06/2013

by finandlife03/06/2013 10:29

 

ETFs là một câu chuyện rất cũ, thế nhưng không mấy người hiểu thật rõ về cơ chế hoạt động, cũng như những rules của loại quỹ này.

Việt Nam có 2 ETFs, và với rất nhiều người, tên tuổi của 2 quỹ này không còn xa lạ, FTSE (1/2008) do Deutsche Bank Platinum Advisors quản lý, Deutsche Bank AG quản lý tiền và VNM ETF (8/2009) do Van Eck Global quản lý. 2 quỹ này có một số khác biệt cần phải lưu ý. Trong khi VNM ETF hoạt động theo phương pháp replication thì FTSE lại hoạt động theo phương pháp synthetic, theo đó, VNM ETF vừa là tổ chức tạo ra chỉ số và vừa vận hành chỉ số, mua bán chứng khoán để track theo chỉ số đó, còn FTSE lại do DB Platinum Advisors tạo chỉ số, còn DB AG mua bán chứng khoán, quản lý tiền. Chính vì phương pháp hoạt động khác nhau này mà mục tiêu chính của VNM ETF là 100% track theo Index đã được tạo ra, do vậy, tại mỗi kỳ review họ thường mua và bán 1 khối lượng lớn ATC mà không quan tâm nhiều đến việc mua giá thấp trong phiên, trong khi dó FTSE lại mua bán chậm rãi, không đẩy hoặc đạp giá mạnh như VNM ETF. Ngoài ra, VNM có mức phí quản lý cao hơn 1 chút so với FTSE (0.86% so với 0.85%) nhưng VNM lại không thu phí front/end load, mức phí này rất cao, FTSE thu tới 3% (min 20kUSD), do vậy FTSE là cuộc chơi chủ yếu của những ông lớn, VNM thì đa dạng đối tượng hơn.

Đó là lý giải tại sao mỗi lần VNM review đều tạo ra những đợt mua bán như “phá mả” mà FTSE lại không thế. Nói thẳng ra thì nhà đầu tư Việt Nam thích VNM hơn FTSE, vì nếu bắt bài được VNM, họ chỉ việc chờ để hưởng lợi nhờ cách đẩy hoặc đạp giá của VNM. Tuy nhiên, đó chỉ là câu chuyện của nhà đầu tư tại thị trường Việt Nam, một cơ chế khác nữa cũng hết sức quan trọng là chỉ báo premium/discount giữa NAV và Price của các ETFs. Nếu premium, các nhà đầu tư sẽ nộp tiền vào quỹ để nhờ quỹ mua mô phỏng theo tỷ trọng các chứng chỉ quỹ trên thị trường, sau đó đem chứng chỉ đó ra thị trường thứ cấp bán, thế là họ đã arbitrage thành công, kiếm được 1 margin lợi nhuận nhất định. Ngược lại, nếu discount, các nhà đầu tư sẽ mua chứng chỉ quỹ trên thị trường, đem chứng chỉ này tới các quỹ để đổi thành NAV, như vậy họ cũng arbitrage thành công, kiếm được 1 margin lợi nhuận khác. Chính 2 loại động thái này, sẽ giúp cho NAV và Price của chứng chỉ ETF theo sát nhau. Đối với những nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam, việc theo dõi chỉ số premium/discount của các ETFs cũng khá quan trọng, vì nó chó phép nhà đầu tư trong nước dự đoán được động thái bán ra/mua vào của các nhà đầu tư ngoại quốc vào ETFs, và từ đó tác động đến động thái bán ra/mua vào của các nhà quản lý tiền cho các quỹ này ở Việt Nam.

Việc review của các ETFs theo những rules tương đối rõ ràng, và chính việc này sẽ giúp cho các nhà phân tích thành lập những models có thể phán đoán phần nào động thái của ETFs, nhưng việc này liệu có còn hấp dẫn? 

Rõ ràng, một công thức nào đó được quá nhiều người biết và vận dụng sẽ mất đi tính mới và hấp dẫn của mô hình, hiện nay, các diễn đàn tài chính nào cũng có người theo dõi và cập nhật động thái của ETFs, do vậy cơ hội kiếm tiền từ việc theo dõi này sẽ khó khăn hơn, nhưng điều đó không có nghĩa là không thể kiếm được. Mọi người cùng nhau test điều này nhé, thử mua vào ITA tham chiếu trong phiên hôm nay, và trong 2 tuần tới, nếu đạt lợi nhuận kỳ vọng thì sell ra. Nếu kết quả cuối cùng là sự nghèo nàn của return thì rõ ràng là khó kiếm tiền rồi, nhưng nếu vẫn có 1 tỷ suất sinh lời cao thì minh chứng cho việc vẫn còn kiếm được tiền nhé! Nào, chúng ta cùng test J

Lịch Review FTSE ETF

Ngày công bố: Ngày Thứ Sáu đầu tiên của tháng cuối quý (tháng 3, 6, 9, và 12)

Ngày thực hiện: Ngày Thứ Sáu thứ ba của tháng cuối quý (tháng 3, 6, 9, và 12)

Ngày có hiệu lực: Ngày Thứ Hai của tuần tiếp theo Ngày thực hiện

Lịch Review VNM ETF

Ngày công bố: Ngày Thứ Sáu thứ hai của tháng cuối quý (tháng 3, 6, 9, và 12)

Ngày thực hiện: Ngày Thứ Sáu thứ ba của tháng cuối quý (tháng 3, 6, 9, và 12) 

Ngày có hiệu lực: Ngày Thứ Hai của tuần tiếp theo Ngày thực hiện

-----

Vào ftse cần khoảng 30 40ty/phien anh

 

Vào vaneck 1 triệu đô/phiên

Nguồn: finandlife

Tags:

Economics | Psychology

“Mua cổ phiếu nào bây giờ con? Haizzz… Mẹ ơi, đừng hỏi con thế nữa!”

by finandlife24/05/2013 10:41

Đây rõ ràng là câu hỏi mà cả dân học thuật về kinh tế lẫn những người làm việc trong ngành chứng khoán hay gặp nhất. Thật khó để có câu trả lời thỏa đáng… Thử xem G.S Mankiw – G.S kinh tế hàng đầu thế giới nhìn nhận vấn đề này thế nào nhé!

 

 

Một vài tuần sau khi chứng khoán leo lên đỉnh cao mới, mẹ tôi cũng đã lên 85 tuổi.

Bà ấy thường hỏi tôi, “mẹ nên mua cổ phiếu nao bây giờ?”

Lần đầu tiên bà hỏi tôi câu đó là khi tôi còn chưa tốt nghiệp Princeton, chuyên ngành kinh tế học. Bà ấy đã hỏi lại câu đó khi tôi tốt nghiệp M.I.T, rồi nhận bằng tiến sĩ kinh tế. Và bà ấy cứ lập lại câu đó trong suốt 3 thập kỷ qua khi tôi trở thành giáo sư kinh tế của Harvard.

Không may, bà ấy không bao giờ thỏa mãn với câu trả lời của tôi, hầu hết câu trả lời đều là sự lãng tránh (evasive). Không có bất cứ công cụ kinh tế học nào của nhà kinh tế học giúp chúng tôi lựa chọn cổ phiếu tốt.

Tuy nhiên, những nhà kinh tế học như chúng tôi đã viết vô vàn những nghiên cứu về thị trường chứng khoán. Và bên dưới là những tóm tắt mà tôi biết:

THỊ TRƯỜNG HẤP THỤ THÔNG TIN RẤT NHANH Một lý thuyết nổi bật trên thị trường chứng khoán là thị trường hiệu quả, giải thích tại sao lại khó trả lời những câu hỏi của mẹ tôi. Nếu tôi đã biết bất kỳ thông tin tốt nào về công ty, thông tin đó đã được phản ảnh vào giá trước khi tôi có hành động. Trừ khi bạn có thông tin nội gián, bạn sẽ khó biết cổ phiếu nào nên mua hơn cổ phiếu nào.

Lý thuyết này được công bố vào năm 1973 với đề tài “A Random Walk Down Wall Street”, bởi Burton G.Malkiel, chuyên gia kinh tế của Princeton. Ông ấy đã đề nghị rằng nhà đầu tư nên mua những quỹ đầu tư chi phí thấp (low-cost index funds). Hầu hết những nhà kinh tế tôi biết đều làm theo lời khuyên này.

GIÁ BIẾN ĐỘNG THƯỜNG KHÔNG THỂ GIẢI THÍCH Thập chí thay đổi của giá là không thể nào dự báo, theo lý thuyết thị trường hiệu quả, chúng ta có thể giải thích những thay đổi này sau khi nó đã diễn ra. Chúng ta có thể xác định những thông tin có thể làm cho cổ phiếu tăng và giảm. Đôi lúc chúng ta có thể làm được điều đó, nhưng thường thì không thể.

Vào năm 1981, Robert J. Shiller, nhà sáng lập của tờ báo này (nytimes) và là giáo sư kinh tế tại Yale, đã công bố một nghiên cứu về kinh tế Mỹ với tựa “Do Stock Prices Move Too Much to be Justified by Subsequent Changes in Dividends?” Ông ấy đã tranh luận rằng giá cổ phiếu thì rất biến động. Đặc biệt, chúng biên động còn mạnh hơn những định giá hợp lý về cơ bản.

Nghiên cứu của Mr. Shiller đã tạo ra một cơn bão tranh luận. Bài đọc của tôi về những kết luận của bài giảng (mặc dù không phải tất cả kỹ thuật của ông ấy đều sống sót qua đợt tranh luận), giá cổ phiếu dường như có một cuộc đời riêng của chúng.

Nhiều người hiện nay cho rằng giá cổ phiếu biến động theo sự thay đổi của phần bù rủi ro, nhưng không ai giải thích được tại sao phần bù rủi ro lại biến động như thế. Một số khác cho rằng thị trường thay đổi theo những con sóng vô định của sự lạc quan và bi quan, điều đó được Hohn Maynard Keynes gọi là “animal spirits” của nhà đầu tư. Cả 2 cách tiếp cận này thật chất cho thấy sự khó khăn để trả lời câu hỏi biến động của thị trường mà các nhà kinh tế đối diện.

NẮM GIỮ CỔ PHIẾU LÀ MỘT CÁ CƯỢC HIỆU QUẢ Phần lớn, việc không thể lý giải biến động giá cổ phiếu đã ngăn nhà đầu tư mua cổ phiếu ngay từ đầu. Nhiều người Mỹ, thập chí né tránh cổ phiếu hoàn toàn. Nhưng làm vậy là sai lầm, bởi vì rủi ro của việc nắm giữ cổ phiếu lại là món quà tuyệt vời.

Năm 1985, Rajinish Mehra và Edward C.Prescott, đã công bố nghiên cứu trên Journal of Monetary Economics với tựa “The Equity Primium: A Puzzle”. Họ đã liệt kê ra trung bình việc nắm giữ cổ phiếu lâu dài có suất sinh lời cao hơn 6% nắm giữ tài sản an toàn khác như Trái phiếu chính phủ. Với phần bù lớn vậy, họ cho rằng, khó để giải thích bằng những mô hình kinh tế chuẩn tắc. Chắc chắn, cổ phiếu rủi ro hơn, vì vậy bạn phải được bù đắp.

Kể từ nghiên cứu đó được xuất bản, những nhà kinh tế học đã bắt đầu có những tiếp cận nào đó trong lý giải về phần bù rủi ro. Trong bất kỳ sự kiện nào, phần bù lớn đã thuyết phục hầu hết chúng ta rằng cổ phiếu nên chiếm 1 phần trong kế hoạch tài chính của mọi người. Với tôi, 60% tài sản tài chính là cổ phiếu.

Cổ phiếu có thể là một thương vụ tốt hôm nay. Theo nghiên cứu gần đây của 2 nhà kinh tế học tại Federal Reserve Bank of New York, cho thấy lãi suất thấp, phần bù vốn cổ phần hiện cao nhất trong 50 năm.

ĐA DẠNG HÓA LÀ RẤT CẦN THIẾT Một công ty kinh nghiệm rồi cũng phải suy giảm – xem trường hợp của Enron hay Lehman Brothers – báo cáo về những nhân viên những người nắm giữ hầu hết tài sản trong cổ phiếu của công ty. Những câu chuyện này để lại những ấn tượng không tốt trong đầu của nhà kinh tế học. Nếu có một thứ gì đó chúng ta biết chắc, đó là quản lý tài chính yêu cầu phải đa dạng hóa.

Vì vậy, nếu bạn có hơn 5% tài sản vào bất kỳ công ty nào, hãy gọi cho môi giới và bảo họ bán bớt đi.

NHÀ ĐẦU TƯ THÔNG MINH SUY NGHĨ MỘT CÁCH TOÀN DIỆN (TOÀN CẦU) Thất bại phổ biến của đa dạng hóa là những gì được giới kinh tế gọi là “home bias”. Người ta có xu hướng đầu tư không cân xưng vào chính quốc gia của họ.

Hầu hết các nhà kinh học có cái nhìn toàn cầu hơn. Nước Mỹ chiếm ít hơn 1 chút danh mục cổ phiếu toàn cầu. Bởi vì, Châu Âu, Nhật Bản và nước đang phát triển không bước đi cùng nhịp với Mỹ, điều đó cũng cho thấy đầu tư ra bên ngoài khá là thú vị.

Quay lại câu chuyện về câu hỏi của mẹ tôi: Nếu tôi có thể chọn cổ phiếu cho ai đó mua, đó sẽ là gì? Tôi sẽ đề nghị một thứ gì đó kiểu như trade fund. Đây là gói đầu tư mà bạn chỉ chịu chi phí thấp mà lại đa dạng hóa tôi đa. Điều đó có thể không thú vị bằng việc cố tìm ra những Apple, Google, nhưng bạn sẽ ngủ yên giấc.

N. Gregory Mankiw is a professor of economics at Harvard.

By N. Gregory Mankiw

Published 18/05/2013

Nguồn: finandlife dịch

Tags:

Economics | Psychology

Tin đồn và sự khác biệt giữa Mỹ với Việt Nam

by Admin25/04/2013 10:12

Đọc bài 220 tỷ USD bốc hơi vì tin Nhà Trắng bị tấn công và B.Obama bị thương mới thấy thị trường chứng khoán thật rất nhạy cảm, qua đó cũng thấy được sự khác biệt trong hành xử của nhà đầu tư Mỹ và Việt Nam.

Điều dễ nhận ra là hiệu quả trong xử lý tin đồn của Mỹ là rất tốt. Nhà đầu tư tham gia thị trường chứng khoán ngay lập tức mua lại cổ phiếu khi nguồn tin chính thức được xác nhận đó là tin đồn thất thiệt. Điều này không xảy ra ở Việt Nam. Trong năm 2012, hàng loạt tin đồn liên quan đến bắt bớ các vị to trong hệ thống ngân hàng làm thị trường mất điểm nghiêm trọng, thế nhưng ngay khi tin đồn được xác nhận lại là không tồn tại, thị trường vẫn tiếp tục hoãn loạn và giảm điểm. Như vậy vấn đề nằm ở đâu? Có lẽ tất cả điều từ lòng tin mà ra, nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán VN đã rất nhiều lần bị lừa theo kiểu “tin đồn àđính chính à tin thật”, vậy thì hành động của họ là tiếp tục bán ra, tiếp tục hoãn loạn cũng là điều rất dễ hiểu, tất cả chỉ muốn bảo toàn tài sản của mình mà thôi.

Qua cách hành xử của nhà đầu tư trên thị trường Mỹ và VN, điểm chung ở đây là khi xảy ra tin đồn, sự hoãn loạn sẽ xuất hiện trên thị trường chứng khoán, điểm khác nhau là ở Mỹ nhà đầu tư nhanh chóng mua lại cổ phiếu nếu tin đồn đó được xác nhận là thất thiệt, còn ở VN dù được xác nhận thất thiệt đi chăng nữa, nhà đầu tư vẫn giữ sự hoài nghi, và tiếp tục bán ra cổ phiếu.

Các bạn xem thêm biểu đồ sau để thấy rõ điều này.

Nguồn: finandlife

Tags:

Psychology

Tâm lý chốt lãi và thực tế thua lỗ

by Life18/04/2013 13:13

 

Rất nhiều nghiên cứu thực nghiệm cho thấy ở cả những thị trường phát triển và đang phát triển, tâm lý và hành vi vẫn chi phối giao dịch hàng ngày của thị trường. Một trong những diễn biến tâm lý khá phổ biến và chính hành động bất hợp lý này làm ảnh hưởng đến kết quả giao dịch đó là xu hướng nắm giữ cổ phiếu lỗ quá lâu và bán ra cổ phiếu lời quá sớm.

Nhiều học giả lý giải cho động thái kỳ lạ này là vì nhu cầu tự thể hiện, nhu cầu được mọi người tưởng thưởng. Trong đó, việc bán ra cổ phiếu lời sớm nhằm chứng tỏ quyết định đầu tư chính xác của mình, điều đó giúp nhà đầu tư thỏa mãn  nhu cầu thể hiện sự giỏi giang; còn việc bán đi cổ phiếu lỗ là thừa nhận thất bại, thừa nhận sai lầm của mình và chính điều này làm nhà đầu tư trì hoãn hoặc ngần ngại đưa ra quyết định. Điều này rất phổ biến trong thực tế, hầu như nhà đầu tư nào tham gia thị trường cũng đều nhớ và kể lại rất rành mạch về những chiến tích, về những cổ phiếu tăng giá vài lần, mà khó tìm thấy những nhà đầu tư tự thú về những thua lỗ.

Giới học giả phương Tây gọi sự bất hợp lý trong giao dịch này là hiệu ứng ngược vị thế (Disposition Effect). Trong một nghiên cứu tiêu biểu ở Mỹ cho thấy, nhà đầu tư ở thị trường này có tỷ lệ hiện thực hóa các khoản đầu tư có lãi lên đến 33.7%, trong khi đó, tỷ lệ hiện thực hóa các khoản đầu tư thua lỗ chỉ là 25.2%. Một nghiên cứu trên thị trường Trung Quốc cũng cho thấy tỷ lệ hiện thực hóa khoản đầu tư có lãi lên đến 51.9%, trong khi đó, tỷ lệ hiện thực hóa các khoản đầu tư thua lỗ chỉ là 31%. Điều này có nghĩa là, nhà đầu tư trên thị trường Mỹ và Trung Quốc rất hứng thú chốt lãi, nhưng lại dè dặt trong cắt lỗ. Trong một nghiên cứu của tác giả cuối 2012, những biểu hiện tương tự cũng tồn tại ở thị trường chứng khoán Việt Nam, có đến 80% nhà đầu tư rơi vào hiệu ứng ngược vị thế, tức thích hiện thực hóa khoản lời hơn khoản lỗ, mức độ sẵn lòng bán cổ phiếu lời là 33.7%, trong khi đó, mức độ sẵn lòng bán cổ phiếu lỗ chỉ là 25.2%.

Kết quả nghiên cứu tại Việt Nam cũng cho thấy, những nhà đầu tư có giá trị giao dịch lớn và những tài khoản của nam giới ít chịu ảnh hưởng của xu hướng thích hiện thực hóa khoản đầu tư có lãi hơn so với khoản đầu tư thua lỗ. Như vậy, những nhà đầu tư có giá trị giao dịch thấp, những nhà đầu tư nữ bị ảnh hưởng của hiệu ứng ngược vị thế mạnh nhất. Theo suy luận của tác giả, những nhà đầu tư có giá trị giao dịch lớn là những nhà đầu tư chuyên nghiệp, xem hoạt động đầu tư là một kênh mang về thu nhập thực thụ, do vậy ở họ có những nghiên cứu kỹ lưỡng cách thức giao dịch, đòi hỏi kỹ năng giao dịch cao cấp giúp hạn chế hành động bất hợp lý. Trong khi đó, những nhà đầu tư có giá trị giao dịch thấp lại thiếu đi những điều này. Về giới tính, giáo sư Odean có lần nói rằng « đầu tư là công việc của nam giới ». Có lẽ chính việc xác định vị thế công việc thuộc về phái mạnh mà ở họ có sự đầu tư nhiều hơn về kiến thức và trải nghiệm. Do đó, nam giới có thể kiểm soát tốt hơn những giao dịch bất hợp lý so với nữ.

Trong nghiên cứu ở Mỹ, những cổ phiếu được chốt lãi sớm tiếp tục tăng giá 2.35% trong năm tiếp theo, trong khi đó, những cổ phiếu lỗ mà nhà đầu tư ngại bán ra lại tiếp tục giảm giá 1.06%. Như vậy hành động bất hợp lý đã làm nhà đầu tư đánh mất 3.41% tỷ suất sinh lợi trong một năm. Do vậy, việc nhìn nhận lại động thái giao dịch của chính mình có thể giúp nhà đầu tư cải thiện thành quả trong tương lai.

Thay cho lời kết, tác giả xin lược trích những nguyên tắc trong giao dịch mà Alexander Elder khuyên nhà đầu tư. Nếu bạn cảm thấy mình giao dịch nhiều nhưng kết quả vẫn nghèo nàn thì hãy ngưng giao dịch một thời gian và đánh giá lại những giao dịch đã qua của mình ; hãy lập kế hoạch trước và không nên ra quyết định mua bán trong giờ giao dịch ; hãy đặt mục tiêu sống sót sau một khoản thời gian dài, sau đó mới là sự tăng trưởng vững chắc của vốn đầu tư và cuối cùng là tạo ra lợi nhuận cao. Và cảnh giới cao nhất là “nhà giao dịch chứng khoán phải rèn luyện để đạt đến trình độ, chiến thắng không cảm thấy quá hưng phấn, thua lỗ không cảm thấy suy sụp”.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Alexander Elder, sách Trading For A Living.

[2] Chen, Gong-Meng, Kenneth A. Kim, John R. Nofsinger, and Oliver M. Rui, 2004, Behavior and performance of emerging market investors: Evidence from China, working paper.

[3] Terrance Odean, 1998, “Are Investors Reluctant to Realize Their Losses?”, Journal of Finance, 53 (5), 1775-1798.

Nguồn: finandlife|một version khác trên Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn  

Tags:

Psychology

AUTOFEED

DISCLAIMER

Blog này phục vụ cho mục đích lưu trữ, tham khảo thông tin và thảo luận. Chúng tôi không đảm bảo tính chắc chắn và không chịu trách nhiệm khi người sử dụng thông tin từ website cho hoạt động đầu tư, mua bán chứng khoán của mình.

Designed by: Nguyễn Chí Hiếu