MỘT DỰ ÁN LỚN CỦA THÁI LAN NHƯNG CÓ LỢI CHO VIỆT NAM

by finandlife29/09/2018 17:36

Kênh đào Kra - Thái Lan theo thiết kế có độ sâu 26m, chiều rộng 2 làn với 340m và chiều dài 102km, cho phép tàu tới 350 nghìn tấn qua lại thuận tiện. Nếu hoàn thành, đây sẽ là kênh đào nhân tạo lớn nhất châu Á. Tuyến hành trình từ Ấn Độ Dương về Đông Á được rút ngắn hơn 1.000 km so với tuyến đường đi qua Eo Malacca.
Dự án này có thể mang đến tác động tích cực đối với Việt Nam. Vùng biển Kiên Giang vốn nằm rất gần đường hải lưu quốc tế có cơ hội được đánh thức. Tàu bè khi qua kênh đào Kra sẽ hướng thẳng tới Phú Quốc – hòn đảo lớn nhất trong vùng cực nam Biển Đông giáp Vịnh Thái Lan, nơi đây có thể trở thành một trạm dừng chân quốc tế "Vietnam Projects Construction"

Một điều đáng ngẫm cho Chính phủ và cả các doanh nghiệp Việt nam, ngày 14.10 vừa qua báo The New York Times trong bài viết của Glenn Thrush đưa tin Tổng thống Mỹ Donald Trump ký thông qua dự luật thiết lập cơ quan viện trợ nước ngoài - Cơ quan Tài chính phát triển Thế giới Mỹ (USIDFC) và cấp quyền sử dụng 60 tỷ đola Mỹ tài trợ cho các công ty sẵn sàng làm ăn tại các Quốc gia đang phát triển. Quyết định này của ông Trump không có mục đích nào khác là ngăn chặn kế hoạch của Trung quốc đã thực hiện trong 5 năm qua bằng cách tài trợ cho nhiều dự án lớn ở Châu Á, Đông Âu và Châu Phi “Nếu một Quốc gia không trả được nợ Trung quốc sẽ lấy những tài sản họ muốn”. USIDFC sẽ là đối thủ cạnh tranh với chiến lược kể trên của Trung quốc.

Trong bài báo này có đăng kèm bản đồ các quốc gia hiện có nền kinh tế với những quan điểm khác nhau trong quan hệ với Trung quốc và tương đối bất ngờ khi Mỹ xếp Việt nam là nước có xu hướng chống lại Trung quốc và tất nhiên sẽ là địa chỉ ưu tiên của USIDFC .

Một câu hỏi lớn được đặt ra với chúng ta: Làm sao để tận dụng được chiến lược này của Người Mỹ nhưng lại không đánh mất thị trường Trung quốc hiện đang chiếm tỷ trọng rất cao trong tổng giá trị xuất khẩu của hàng hoá Việt nam.

Thực sự có cơ hội tốt cho nền kinh tế Việt nam khi Mỹ Trung mở rộng chiến tranh thương mại, vấn đề chỉ còn là chúng ta có chiến lược gì đây để tận dụng cơ hội này! 

Nguyễn Duy Hưng

Tags:

Economics

Quy định vay và cho vay chứng khoán SBL

by finandlife28/09/2018 10:02

b. Hỗ trợ thành viên lập quỹ ETF có đủ chứng khoán để góp vốn và thực hiện giao dịch hoán đổi danh mục với quỹ ETF theo quy định hiện hành.

a. Thành viên lập quỹ ETF, VSD

Điều 5. Giá trị chứng khoán cho vay và lãi suất vay/cho vay

1. Giá trị chứng khoán cho vay được xác định theo công thức sau:

             VL  =  QL x P

Trong đó:

Vl là giá trị chứng khoán cho vay

QLlà số lượng chứng khoán cho vay

P xác định như sau:

+ Đối với cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư: giá đóng cửa tại ngày giao dịch liền kề trước ngày vay hoặc ngày được yêu cầu bổ sung tài sản thế chấp.

2. Giá trị chứng khoán cho vay được định giá lại vào 16h00 hàng ngày theo công thức trên để làm cơ sở xác định mức tài sản thế chấp tương ứng theo quy định tại Khoản 3 Điều 10 Quy chế này.

3. Lãi suất cho vay được xác định theo thỏa thuận giữa người vay và người cho vay nhưng không được vượt quá 120% lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố.

4. Lãi khoản vay được xác định như sau:

L=

Trong đó:

L: là lãi khoản vay

            I : là lãi suất cho vay năm.

 

1. Thời hạn vay/cho vay tối đa là 05 ngày làm việc đối với thỏa thuận vay/cho vay để hỗ trợ thanh toán và tối đa không quá 90 ngày đối với thỏa thuận vay/cho vay để góp vốn hoặc hoán đổi danh mục quỹ ETF.

 

4. Trình tự, thủ tục hoàn trả khoản vay:

a. Hoàn trả toàn bộ bằng chứng khoán cho vay:

Bên vay gửi VSD hồ sơ hoàn trả chứng khoán vay bao gồm các tài liệu sau:

i. Giấy đề nghị chuyển trả chứng khoán cho bên cho vay (Mẫu 03A/SBL, 03B/SBL của Quy chế này);

ii. Biên bản thanh lý hợp đồng giữa các bên vay và cho vay và TVLK đại diện cho bên cho vay (nếu có)

iii. Yêu cầu chuyển khoản chứng khoán (Mẫu 04/SBL của Quy chế này)  (03 liên)

Đồng thời, bên vay đăng nhập thông tin hoàn trả và/hoặc tất toán hợp đồng vay, cho vay trên hệ thống SBL (Mẫu 05/SBL của Quy chế này).

b. Hoàn trả toàn bộ hoặc một phần bằng tiền :

i. Các bên tự thỏa thuận trong biên bản thanh lý hợp đồng vay/cho vay giá trị bằng tiền quy đổi từ chứng khoán cho vay nhưng không được thấp hơn giá trị chứng khoán cho vay tại ngày hoàn trả được xác định theo công thức quy định tại Khoản 1 Điều 5.

ii. Biên bản thanh lý hợp đồng vay/cho vay chứng khoán được gửi tới VSD trong vòng 01 ngày làm việc kể từ ngày các bên ký Biên bản. Trường hợp hoàn trả một phần bằng tiền, bên vay gửi kèm theo Biên bản thanh lý hợp đồng vay/cho vay chứng khoán các tài liệu quy định tại Tiết i, iii Điểm a Khoản này.

Đồng thời, bên vay đăng nhập thông tin hoàn trả và/hoặc tất toán hợp đồng vay, cho vay trên hệ thống SBL (Mẫu 05/SBL của Quy chế này).

c. Trong vòng 01 ngày làm việc, VSD xử lý hồ sơ hoàn trả chứng khoán cho vay và hạch toán theo quy định tại Điều 20 Quy chế này.

 

 

2. Tài sản thế chấp để vay chứng khoán hỗ trợ thanh toán là tiền. Tài sản thế chấp để vay chứng khoán hỗ trợ cho việc để góp vốn hoặc hoán đổi danh mục quỹ ETF là tiền và/hoặc chứng khoán đủ điều kiện theo quy định tại Khoản 3 Điều này bao gồm:

a. Trái phiếu Chính phủ, trái phiếu Chính phủ bảo lãnh ngoại trừ trái phiếu chuyển đổi, tín phiếu Kho bạc;

b. Chứng khoán niêm yết tại Sở Giao dịch chứng khoán (cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư ngoại trừ chứng chỉ quỹ ETF).  

 

 

Điều 10. Định giá giá trị tài sản thế chấp

1.      Giá trị tài sản thế chấp được xác định theo công thức sau đây:

VTC=  C + QTC x P x (100% - H)

Trong đó

VTC  là giá trị tài sản thế chấp

C là tiền thế chấp (nếu có)

QTC  là số lượng chứng khoán thế chấp

P là giá chứng khoán áp dụng để định giá:

 + Đối với trái phiếu Chính phủ, trái phiếu Chính phủ bảo lãnh: là giá tính toán theo mô hình Đường cong Lợi suất Trái phiếu Chính phủ của Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội tại ngày giao dịch liền kề trước ngày vay hoặc ngày được yêu cầu bổ sung tài sản thế chấp.

+ Đối với cổ phiếu/chứng chỉ quỹ niêm yết tại các Sở Giao dịch chứng khoán: giá đóng cửa tại ngày giao dịch liền kề trước ngày vay hoặc ngày được yêu cầu bổ sung tài sản thế chấp.

H là tỷ lệ chiết khấu tài sản theo quy định tại Điều 13 của Quy chế này.

2. Giá trị tài sản thế chấp được định giá lại vào 16h00 hàng ngày theo công thức quy định tại Khoản 1 Điều này làm căn cứ xác định việc duy trì giá trị tài sản thế chấp của bên vay theo quy định tại Khoản 3 Điều này.

3. Bên vay phải đảm bảo giá trị tài sản thế chấp ban đầu bằng 115% giá trị chứng khoán vay. Bên vay phải nộp bổ sung tài sản thế chấp trong trường hợp giá trị tài sản thế chấp thấp hơn mức nêu trên theo quy định tại Điều 12 Quy chế này và được quyền rút tài sản thế chấp khi giá trị tài sản thế chấp lớn hơn mức quy định.

 

 

Điều 13. Tỷ lệ chiết khấu tài sản

1. Tỷ lệ chiết khấu tài sản áp dụng đối với từng loại chứng khoán khi xác định giá trị tài sản thế chấp, trừ trường hợp tài sản thế chấp là tiền là:

b. 30% đối với chứng khoán nằm trong danh mục chứng khoán cấu thành chỉ số VN30/HNX30 và 40% đối với chứng khoán còn lại.

CHƯƠNG IV

HỆ THỐNG THỎA THUẬN VAY VÀ CHO VAY

 

              1. Các bên vay và cho vay phải ký hợp đồng vay và cho vay (Phụ lục 02 của Quy chế này) trước khi chuyển thông tin vào hệ thống SBL đối với giao dịch vay và cho vay theo phương thức thoả thuận trực tiếp hoặc sau khi xác lập được thoả thuận vay và cho vay đối với giao dịch vay và cho vay theo phương thức thoả thuận qua hệ thống.

2. Các bên tham gia hệ thống SBL cần đáp ứng các điều kiện sau:

a. Bên vay phải nộp đủ tài sản thế chấp đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 3 Điều 9 của Quy chế này và có yêu cầu vay hợp lệ được nhập vào hệ thống SBL.

  b. Bên cho vay có đủ chứng khoán đủ điều kiện cho vay tại tài khoản chứng khoán giao dịch và đã xác nhận yêu cầu vay do bên vay nhập vào hệ thống SBL thông qua TVLK nơi  bên cho vay mở tài khoản giao dịch chứng khoán.

 3. Chỉ TVLK của VSD mới được tham gia đăng nhập yêu cầu vay/cho vay, chào vay/chào cho vay vào hệ thống SBL.

2. Được vay cho chính mình để lập, hoán đổi danh mục quỹ ETF trong trường hợp đủ điều kiện là thành viên lập quỹ (AP) theo quy định hiện hành hoặc để hỗ trợ thanh toán trong trường hợp tạm thời thiếu chứng khoán thanh toán.  

3. Phải ký hợp đồng cung cấp/ nhận dịch vụ với/ từ VSD và thông báo thông tin tài khoản quản lý tài sản thế chấp bằng tiền với VSD (Phụ lục 03,04 của Quy chế này)

4. Kiểm tra và đảm bảo khách hàng có đủ chứng khoán cho vay hợp lệ  theo quy định tại Điều 4 Quy chế này.

 

Điều 18. Trình tự, thủ tục xác lập thỏa thuận vay/cho vay

1. Trường hợp thỏa thuận trực tiếp

a. Sau khi thống nhất các điều kiện vay và cho vay bao gồm loại và số lượng chứng khoán, lãi suất khoản vay, loại và số lượng tài sản thế chấp, ... TVLK bên vay sẽ đăng nhập Yêu cầu vay vào hệ thống SBL.

b. Thỏa thuận vay/cho vay sẽ được xác lập trên hệ thống SBL (Mẫu 10/SBL của Quy chế này) khi TVLK bên cho vay/ đại diện cho bên cho vay thực hiện xác nhận đồng ý các nội dung trong Yêu cầu vay mà TVLK bên vay đã nhập vào hệ thống và TVLK bên vay nộp đủ tài sản thế chấp.

c. Trong vòng 01 ngày làm việc sau khi nhận được thông báo thỏa thuận vay/cho vay đã được xác lập trên hệ thống SBL thông qua cổng giao tiếp điện tử, TVLK bên cho vay phải chuyển tới VSD hồ sơ vay chứng khoán bao gồm các tài liệu sau:

i. Giấy đề nghị cho vay chứng khoán của người đầu tư có chứng khoán cho vay (Mẫu 11/SBL của Quy chế này);

ii. Giấy ủy quyền của người đầu tư có chứng khoán cho vay cho TVLK nơi mở tài khoản lưu ký chứng khoán (Mẫu 12/SBL của Quy chế này);

iii. Hợp đồng vay/cho vay chứng khoán giữa bên vay, bên cho vay và TVLK nơi bên cho vay mở tài khoản lưu ký chứng khoán (nếu có).

d. Trường hợp TVLK là bên cho vay, hồ sơ gửi tới VSD chỉ bao gồm tài liệu quy định tại Điểm iii Khoản 1 Điều này.

2. Trường hợp thỏa thuận qua hệ thống:

               a. TVLK bên vay/TVLK bên cho vay nhập Chào vay/Chào cho vay vào hệ thống SBL để tìm đối tác cho vay/vay.

b. Sau khi thống nhất được các điều kiện vay, cho vay với đối tác tương ứng, TVLK bên vay/TVLK bên cho vay thực hiện các quy trình, thủ tục tương tự như trường hợp thỏa thuận trực tiếp quy định tại Khoản 1 Điều này.

 

---

Trích TT229 quy định:

Điều 11. Thành viên lập quỹ, tổ chức tạo lập thị trường

1. Thành viên lập quỹ đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau:

a) Là công ty chứng khoán có nghiệp vụ môi giới và tự doanh chứng khoán; ngân hàng lưu ký;

b) Trong vòng mười hai (12) tháng gần nhất, trước tháng nộp hồ sơ đăng ký thành lập quỹ ETF, duy trì tỷ lệ vốn khả dụng tối thiểu đạt hai trăm hai mươi phần trăm (220%), hoặc một tỷ lệ khác cao hơn theo yêu cầu của công ty quản lý quỹ. Ngân hàng lưu ký phải đáp ứng tỷ lệ an toàn vốn theo quy định của pháp luật về ngân hàng;

c) Đã ký hợp đồng lập quỹ ETF với công ty quản lý quỹ;

d) Đáp ứng các điều kiện khác (nếu có) tại hợp đồng lập quỹ.

2. Quyền của thành viên lập quỹ:

a) Được cung cấp dịch vụ môi giới cho nhà đầu tư trong hoạt động hoán đổi danh mục theo quy định tại Điều 12 Thông tư này. Quy định này chỉ áp dụng đối với thành viên lập quỹ là công ty chứng khoán;

b) Được thực hiện các giao dịch tự doanh với quỹ ETF, thông qua công ty quản lý quỹ, theo cơ chế hoán đổi danh mục chứng khoán cơ cấu của mình lấy các lô chứng chỉ quỹ ETF và ngược lại;

c) Được vay chứng khoán cơ cấu để hoán đổi lấy các lô chứng chỉ quỹ ETF; hoặc vay các lô chứng chỉ quỹ ETF để hoán đổi lấy danh mục chứng khoán cơ cấu. Hoạt động vay chứng khoán, chứng chỉ quỹ ETF này phải được thực hiện trên hệ thống và theo hướng dẫn của Trung tâm Lưu ký Chứng khoán;

 

Điều 13. Giao dịch chứng chỉ quỹ ETF trên Sở Giao dịch Chứng khoán (giao dịch thứ cấp)

1. Nhà đầu tư, thành viên lập quỹ giao dịch chứng chỉ quỹ ETF đã niêm yết thông qua hệ thống giao dịch của Sở Giao dịch Chứng khoán theo nguyên tắc sau:

a) Nhà đầu tư, thành viên lập quỹ đặt lệnh giao dịch trên các tài khoản giao dịch chứng khoán của mình. Hoạt động giao dịch và thanh toán giao dịch thực hiện theo quy định về giao dịch chứng khoán của Sở Giao dịch Chứng khoán, Trung tâm Lưu ký Chứng khoán;

b) Đơn vị giao dịch thực hiện theo quy định của Sở Giao dịch Chứng khoán nơi chứng chỉ quỹ ETF niêm yết;

c) Chứng chỉ quỹ ETF có thể được sử dụng trong hoạt động cho vay mua ký quỹ và các hoạt động khác phù hợp với quy định của pháp luật về chứng khoán.

2. Thành viên lập quỹ chỉ được bán chứng chỉ quỹ ETF (bán chứng khoán cơ cấu) trên hệ thống của Sở Giao dịch Chứng khoán khi bảo đảm có đủ chứng chỉ quỹ ETF (chứng khoán cơ cấu) để bán vào ngày thanh toán theo quy định của Trung tâm Lưu ký Chứng khoán. Số chứng chỉ quỹ ETF (chứng khoán cơ cấu) này bao gồm số chứng chỉ quỹ ETF (số chứng khoán cơ cấu) đã có sẵn trên tài khoản của thành viên lập quỹ tại ngày thực hiện giao dịch, số chứng chỉ quỹ ETF (số chứng khoán cơ cấu) nhận được trước hoặc vào ngày thanh toán từ giao dịch hoán đổi trên cơ sở danh mục chứng khoán cơ cấu (số chứng chỉ quỹ ETF) có được trong các giao dịch mua trên thị trường hoặc giao dịch vay trên hệ thống của Trung tâm Lưu ký Chứng khoán đã thực hiện thành công trước đó.

 

Trích quy chế VSD quy định:

2. Hoạt động vay và cho vay chứng khoán quy định tại Quy chế này nhằm thực hiện:

a. Hỗ trợ thanh toán giao dịch chứng khoán trong trường hợp TVLK của VSD do sửa lỗi dẫn đến tạm thời thiếu hụt chứng khoán để thanh toán, hoặc

b. Hỗ trợ thành viên lập quỹ ETF có đủ chứng khoán để góp vốn và thực hiện giao dịch hoán đổi danh mục với quỹ ETF theo quy định hiện hành.

3. Đối tượng áp dụng của Quy chế này bao gồm:

a. Thành viên lập quỹ ETF, VSD

b. TVLK đóng vai trò là bên cho vay hoặc bên vay

c. Tổ chức, cá nhân sở hữu chứng khoán lưu ký đóng vai trò là bên cho vay.

Bên cho vay các tổ chức, cá nhân sở hữu chứng khoán đã lưu ký tại VSD có nhu cầu cho vay chứng khoán phải thực hiện giao dịch cho vay tại VSD thông qua TVLK nơi tổ chức, cá nhân đó mở tài khoản.

Bên vay là TVLK hoặc các tổ chức được công nhận là thành viên lập quỹ ETF được vay chứng khoán để thực hiện các hoạt động theo quy định pháp luật có liên quan hiện hành.

Tags: ,

Economics

Tiết kiệm cho tương lai không bao giờ là đủ

by finandlife24/09/2018 21:04

Tags:

Economics | StoriesofLife

Tại sao tiền Hàn Quốc lại chảy mạnh vào VN

by finandlife23/09/2018 13:55

Dòng vốn Đông Á liên tục chảy vào VN như đây là một cơ hội đầu tư kinh doanh tuyệt vời. Tại sao vậy, nhìn biểu đồ PMI, chỉ số đo kỳ vọng mở rộng tăng trưởng sản xuất, PMI của Việt Nam liên tục duy trì ở mức >50, tức mức mở rộng, trong khi đó, HàN Quốc lại ngược lại, liên tục dưới 50, cho thấy nền kinh thế đang thu hẹp sản xuất.

Chỉ số chứng khoán VN tăng 3 lần từ đầu 2012, trong khi đó chỉ số Kospi của Hàn Quốc chỉ tăng 27% sau ngần ấy năm. Dòng vốn ứ đọng trong nước đang quá lớn, nhu cầu tìm kiếm thị trường mới giải ngân là không thể tránh khỏi. Việt Nam là một trong những quốc gia nhận được dòng vốn này.

Ngoài những FDI khổng lồ như Samsung, Huyndai, Lĩnh vực ngân hàng, bất động sản cũng thu hút lượng tiền lớn (KEB Hana Bank tìm hiểu BID, giá trị thương vụ chưa được tiết lộ, nhưng giá bán không quá thấp so với VCB). Gần đây nhất, SK rót vốn mua >400 triệu USD cổ phiếu quỹ của MSN, trước đó là thực phẩm Cầu Tre, cho thấy lĩnh vực tiêu dùng 96 triệu dân VN và cả khu vực Đông Nam Châu Á là toan tính mới của con hổ Châu Á, Hàn Quốc.

FINANDLIFE

Tags:

Economics

Điều chỉnh cùng thời điểm nhưng chứng khoán Mỹ đã vượt đỉnh

by finandlife22/09/2018 20:26

Điều này không hoàn toàn xấu, EM, Frontier còn có thể hưởng lợi nếu dòng vốn chốt lãi Mỹ chuyển về EM tiềm năng khi mức độ chênh lệch ngày càng lớn.

Tags:

Economics | StockAdvisory

AUTOFEED

DISCLAIMER

Blog của HUỲNH NGỌC THƯƠNG, chuyên viên
phân tích đầu tư chuyên nghiệp, hơn 12 năm kinh nghiệm phân tích đầu tư tại thị trường Việt Nam. Blog phục vụ cho mục đích lưu trữ, tham khảo thông tin và chia sẻ góc nhìn cá nhân (không đại diện cho tổ chức nơi tác giả đang làm việc). Tác giả không đảm bảo tính chắc chắn và không chịu trách nhiệm khi người sử dụng thông tin từ website cho hoạt động đầu tư, mua bán chứng khoán của mình.

 

LINKEDIN

Designed by: Nguyễn Chí Hiếu