Báo cáo chiến lược tháng 10

by finandlife15/10/2015 09:25

DIỄN BIẾN KINH TẾ THẾ GIỚI

• Các tổ chức tài chính quốc tế hạ dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu

• Mỹ: FED trì hoãn việc tăng lãi suất

• Trung Quốc: Sản xuất giảm mạnh tháng thứ 7 liên tiếp

• EuroZone: Tăng trưởng kinh tế và lạm phát chưa có những cải thiện đáng kể

GIÁ CẢ HÀNG HÓA THẾ GIỚI TIẾP TỤC GIẢM NHẸ TRONG THÁNG 9

TÌNH HÌNH KINH TẾ VIỆT NAM

• Tăng trưởng GDP cho thấy kinh tế tiếp tục xu hướng phục hồi trong Quý III

• Sản xuất tháng 9 phục hồi chậm lại

• Tiêu dùng và đầu tư cải thiện

• Xuất khẩu khó khăn gây áp lực kiểm soát nhập siêu

• Tỷ giá và thị trường ngoại hối dần ổn định trở lại

• Lạm phát thấp chủ yếu do giá lương thực, thực phẩm và năng lượng giảm

• Thị trường tiền tệ ổn định, tín dụng tiếp tục tăng trưởng nhanh

• Phát hành trái phiếu chính phủ khó khăn

• Áp lực cân đối ngân sách

THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN THÁNG 9

• Đi ngang trong biên độ hẹp

• Khối ngoại tiếp tục bán ròng mạnh

XU HƯỚNG THỊ TRƯỜNG THÁNG 10

• Phụ thuộc vào sự tích cực của dòng tiền nội và lực mua của khối ngoại

• Cơ hội tích lũy các cổ phiếu có hoạt động kinh doanh ổn định và tăng trưởng

Chi tiết xem ở Báo Cáo Chiến Lược Tháng 10.

 

Nguồn: VFS Research

Tags:

Economics

Báo cáo chiến lược tháng 04/2015 phần 2

by finandlife09/04/2015 17:30

 

Xuất khẩu tháng 03 ước đạt 12.7 tỷ USD, tăng 33.5% sovới tháng trướcTính chung quý I, xuất khẩu ước đạt 35.7 tỷ USD, tăng 6.9% so với cùng kỳ năm 2014.

Mặt hàng tăng cao: Điện thoại các loại và linh kiện +21.9điện tử, máy tính và linh kiện +65.4%; giày dép +19.5%; máy móc thiết bị dụng cụ phụ tùng khác +16.7%; túi xách, vali, mũ, ô dù +19.9%.

Nhập khẩu tháng 03 ước đạt 13.3 tỷ USD, tăng 26.9% so với tháng trước. Tính chung quý Inhập khẩu ước tính đạt 37.5 tỷ USD, tăng 16.3% so với cùng kỳ năm 2014.

Mặt hàng tăng cao:Ô tô +73.6%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác +44.4%; điện tử, máy tính và linh kiện +31.1%; sản phẩm chất dẻo +27.4%; điện thoại các loại và linh kiện +25%; thức ăn gia súc và nguyên phụ liệu +25%.

Tháng 02 nhập siêu 967 triệu USD, con số ước tính là xuất siêu 300 triệu USDTính chung quý Iước tính nhập siêu ước tính 1.8 tỷ USDtrong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 3.8 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 2 tỷ USD. 

Nếu sản xuất trong nước tiếp tục phục hồi, khả năng cán cân thương mại năm 2015 theo hướng nhập siêu do phần lớn nguyên, nhiên vật liệu đầu vào phục vụ cho quá trình sản xuất, gia công lắp ráp được nhập khẩu từ nước ngoài.

Tính đến 20/03/2015, cả nước có 267 dự án được cấpphép mới với số vốn đăng ký đạt 1.21 tỷ USD, bằng 59.4% so với cùng kỳ 2014. Tính chung cả cấp mới và tăng vốn, FDI đạt 1.84 tỷ USD, bằng 55.1% so với cùng kỳ, FDI giải ngân đạt 3.05 tỷ USD, tăng 7%.

Lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo là lĩnh vực thu hút FDI nhiều nhất chiếm 76.6%tổng vốn đăng ký,đứng thứ 2 là lĩnh vực kinh doanh bất động sản chiếm 11%, đứng thứ 3 là lĩnh vực bán buôn, bán lẻ, sửa chữa chiếm 6.7%. Theo đối tác đầu tư, Hàn Quốc dẫn đầu vốn đầu tư vào Việt Nam với 26.7%BritishVirgin Islands đứng thứ hai với 19.1% và Nhật Bản đứng thứ ba chiếm 16%.

Số liệu từ Tổng cục Thống kêtính đến 20/03/2015, tín dụng cả nước tăng 1.25%. Trái với quý I hàng năm, tín dụng thường không tăng hoặc tăng trưởng âm. Nguyên nhân tín dụng tăng nhanh này nhờ nền kinh tế đã hồi phục, mặt bằng lãi suất đang ở mức thấp kích thích vay vốn.

Bênh cạnh đó, tăng trưởng huy động chỉ tăng nhẹ 0.94% trong khi cùng kỳ năm trước tăng 2.7%. Tổng phương tiện thanh toán tăng 2.09% (cùng kỳ năm trước là 3.56%). Ngoài việc tiền chảy vào sản xuất kinh doanh, USD tăng giá, trong khi lãi suất huy động tiền đồng liên tục giảm được cho là một trong những nguyên nhân khiến huy động vốn tăng chậm lại. Hiện vốn huy động và cho vay của các ngân hàng được cho là cân bằng.

Từ đầu tháng 03, nhiều ngân hàng đã đồng loạt hạ lãi suất huy động,phổ biến ở mức 4-5.4%/năm đối với tiền gửi VNĐ kỳ hạn 1 đến dưới 6 tháng.

Động thái giảm lãi suất huy động này cũng nằm trong chủ trương chung của toàn ngành ngân hàng khiNHNN dự tính có thể sẽ tiếp tục giảm lãi suất cho vay trung dài hạn thêm 1-1.5%/năm trong năm nay. Hiện mặt bằng lãi suất cho vay VNĐ hiện ở mức 7% đối với các lĩnh vực ưu tiên; các lĩnh vực sản xuất thông thường là 7-9% đối với ngắn hạn và 9.5-10% đối với trung và dài hạn.

Thị trường liên ngân hàng, lãi suất tăng ở hầu hết các kỳ hạn chủ chốt, giao dịch chủ yếu tập trung kỳ hạn qua đêm.

Tháng 3/2015, thị trường sơ cấp huy động được 15,618 tỷ đồng trái phiếu Chính phủ, tỷ lệ trúng thầu đạt 51.21% giảm mạnh từ mức 91.9% của tháng trước. Lãi suất trúng thầu đồng loạt giảm ở tất cả các kỳ hạn so với tháng trước.

Thị trường thứ cấp, tổng giá trị giao dịch là 122,891 tỷ đồng, tăng gần gấp 3 lần so với tháng trướcGiá trị giao dịch Outright của tháng 3 đạt 88,853 tỷ đồng, chiếm 72.3%. Giao dịch TPCP đạt 98,714 tỷ đồng, chiếm 80.33%.

Lợi suất giao dịch TPCP cuối tháng 3 đã tăng ở tất cả các kỳ hạn so với tháng trước: 1 năm +31.5 điểm, 2 năm +30.9 điểm, 3 năm +31.8 điểm, 5 năm +17.3 điểm, 7 năm +7 điểm và 10 năm -1.4 điểm.

Trong tháng 03, trên thị trường ngoại hối, tỷ giá có nhiều thời điểm biến động tăng mạnh trước áp lực tăng cao của đồng USD. Các NHTM đã bất ngờ điều chỉnh tỷ giá tăng đến 21,420-21,580 đồng/USD ngày 16/3 (tuy nhiên vẫn còn thấp hơn mức trần 21,672 đồng/USD). Thị trường tự do, tỷ giá có thời điểm lên mức 21,800 đồng/USD.

Trước diễn biến này, chiều ngày 25/3, NHNN đã chính thức đưa ra thông điệp ổn định thị trường khi khẳng định sẽ không điều chỉnh tý giá mà tiếp tục điều hành ổn định tỷ giá giai đoạn này. Tính đến thời điểm cuối tháng 03, tỷ giá bán USD của VCB ở mức 21,590 đồng/USD. Thị trường tự do, tỷ giá VND/USD tăng cao ở mức 21,640 chiều bán ra.

Theo Hiệp Hộicác Nhà sản xuất Ôtô VN (VAMA), trong tháng 02/2015 doanh số bán hàng của toàn thị trường đạt 12,329 xe, giảm 38% so với tháng 1/2015 và tăng 69% so với cùng kỳ năm trước.

Doanh số xdu lịchđạt 8,899 xe, giảm 35%so với tháng trước và doanh số xe thương mạiđạt 3,430 xe, giảm 46%. Sản lượng xe lắp ráp trong nước đạt 7,914 xe, giảm 41% so với tháng trước, số lượng xe nhập khẩu nguyên chiếc là 4,415 xe, giảm 32%.

Tính chung 02 tháng đầu năm, doanh số bán hàng toàn thị trường tăng 76% so với cùng kỳ năm trước.

Giá cả hàng hóa tháng 02/2015 tăng 5.5% so với tháng trước và là mức tăng lần đầu tiên trong vòng 8 tháng qua, chủ yếu phản ánh sự phục hồi mạnh của giá dầu. Giá cả hàng hóa phi nhiên liệu giảm 2.2%, ảnh hưởng bởi sự tăng giá của đồng đô la Mỹ (khoảng 1.3%) và nhu cầu tăng chậm của Trung Quốc.

Giá dầu thô đã tăng 15.8% trong tháng 02, trung bình ở mức 54.9 $/thùng do nhu cầu tăng cao và một số biến động trong nguồn cung, thấp hơn 55% kể từ tháng 6/2014. Giá khí đốt tự nhiên ở Mỹ đã giảm 4.3% trong tháng 02, bình quân ở mức 2.85$/mmbtu do trữ lượng dồi dào mặc dù nhu cầu sửi ấm tăng, dự kiến giá sẽ giảm trong tháng 03 khi mùa lạnh bắt đầu qua.

Giá hàng hóa nông nghiệp đã giảm 2.2% trong tháng 02, là tháng giảm thứ 9 liên tiếp do nguồn cung dồi dào ở hầu hết các mặt hàng. Mức giảm mạnh nhất ở thịt heo (-8%), thịt bò (-10%), đậu nành và bột đậu nành (-7%), cà phê Arabica (-8%), lúa mì (-5%), đường (-4%)… Trong khi giá cao su tăng 9% do giảm sản lượng theo mùa ở Thái Lan.

Giá hàng hóa kim loại giảm 2.2% trong tháng 02 và là tháng giảm thứ 7 liên tiếp do nhu cầu tăng chậm lại ở Trung Quốc và nguồn cung tiếp tục tăng. Mức giảm khá lớn ở quặng sắt (-7%), nikel (-2%), đồng (-2%) trong khi uranium tăng 6% do gián đoạn nguồn cung ở Úc.

DIỄN BIẾN CHỈ SỐ GIÁ MỘT SỐ HÀNG HÓA THẾ GIỚI THÁNG 3 (NĂM 2010=100)

Thị trường chứng khoán trong tháng 3 chứng kiến sự sụt giảm tương đối mạnh của cả 2 chỉ số chính.

VNINDEX kết thúc tháng 3 ở mức 551.13 điểm, giảm 41.44 điểm, tương đương giảm 7% so với cuối tháng trước. Thanh khoản trung bình trong tháng đạt 1,556.4 tỷ đồng/phiên, tăng 27.8% so với thanh khoản trung bình tháng trước.

Tương tự, HNXINDEX giảm 3.5 điểm, tương đương giảm 4% so với cuối tháng trước. Thanh khoản trung bình trong tháng đạt 514.9 tỷ đồng/phiên, tăng 18.4% so với tháng trước.

Mặc dù thanh khoản tháng 3 có cải thiện so với tháng 2 (tháng có kỳ nghỉ lễ tết nguyên đán) nhưng vẫn ở mức thấp so với giai đoạn trước. Tính chung cho cả Quý 1/2015, thanh khoản trung bình chỉ đạt 1,489 tỷ đồng/phiên trên HSX và 531.8 tỷ đồng/phiên trên HNX, lần lượt giảm 26% và 37% so với thanh khoản trung bình Quý 4/2014.

Nguyên nhân theo chúng tôi có thể do (1) những thay đổi pháp lý nhắm vào dòng tiền đã chặn 1 lượng lớn tiền nóngvào chứng khoán; (2) thanh khoản của thị trường bất động sản cải thiện đã hút một lượng tiền đáng kể từ thị trường và (3)một lượng vốn lớn của nhà đầu tư trên thị trường bị “chôn” vào các đợt phát hành “khủng” thời gian qua…

Sau khi mua ròng 1,162 tỷ đồng trong tháng 2, nhà đầu tư nước ngoài quay lại bán ròng trong tháng 3 với tổng giá trị 926 tỷ đồng trên cả 2 sàn. Luỹ kế Quý 1, khối ngoại mua ròng 57 tỷ đồng, giảm mạnh so với con số mua ròng 800 tỷ cùng kỳ năm trước.

Top 5 cổ phiếu được khối ngoại mua ròng mạnh nhất trong tháng bao gồm KBC (318 tỷ), KDC (278.2 tỷ), MWG (173.6 tỷ), BID (124.6 tỷ) và CTG (97.6 tỷ). Trong khi đó Top 5 cổ phiếu bị khối ngoại bán ròng mạnh nhất gồm PVD (-432.4 tỷ), GAS (-359.8 tỷ), HPG (-247.4 tỷ), VCB (-246.8 tỷ) và VIC (-208.4 tỷ).

Đáng chú ý trong tháng là giao dịch của quỹ VNM ETF. Ngoài việc gây bất ngờ trong kỳ review danh mục khi loại 2 cổ phiếu ngoại và thêm mới 2 cổ phiếu nội (KBC, KDC), quỹ này liên tiếp bị rút vốn trong nửa cuối tháng, là nguyên nhân chính dẫn đến kết quả bán ròng của khối ngoại và tâm lý e ngại trên thị trường. Cụ thể trong tháng 3 quỹ này bị rút ròng 2,450,000 chứng chỉ quỹ, tương đương khoảng 41.6 triệu USD (~890 tỷ đồng). Đặc biệt có những phiên quỹ này bị rút vốn với khối lượng kỷ lục (1 triệu chứng chỉ quỹ) gây ra những tác động tiêu cực lên tâm lý thị trường.

Trong tháng 3, sự sụt giảm xảy ra ở hầu hết các nhóm ngành, ngoại trừ nhóm Bất động sản (+4%) và Thương mại (+3%). Ngành thuỷ sản có mức độ sụt giảm mạnh nhất (-15%), tiếp theo là Ngành Bảo hiểm (-12%), Khai khoáng (-10%)…

Ngành Ngân hàng giảm 6% trong tháng 3, tuy vậy vẫn giữ được mức tăng 20% so với đầu năm. Tiếp đến là ngành Cơ khí (+11%), Sản xuất thiết bị điện – điện tử - viễn thông (+9%)… Công Nghệ thông tin – Truyền Thông (-21%), Sản xuất tôn thép (-17%)… là những ngành có mức độ sụt giảm mạnh nhất so với đầu năm

XU HƯỚNG THỊ TRƯỜNG THÁNG 4/2015

Thị trường tiếp tục bước vào tháng 4 với những phiên giao dịch ảm đạm. Điểm số mặc dù có dấu hiệu ngừng rơi nhưng thanh khoản chưa có dấu hiệu cải thiện. Quỹ VNM ETF tiếp tục bị rút ròng tạo tâm lý dè chừng trên thị trường.

Sự nới lỏng tại Trung Quốc, Châu Âu, Nhật đã làm đồng nội tệ tại những quốc gia này sụt giảm mạnh so với USD.Trong khi đó, Ngân hàng nhà nước vẫn kiên định đi theo chính sách tỷ giá neo ổn định VND với USD, đã làm cho chứng khoán Việt Nam kém hấp dẫn một cách tương đối so với những thị trường khác, đặc biệt là với các quỹ đầu tư chỉ số ETFs, dẫn đến động thái rút ròng của dòng tiền nóng này.

Mặc dù vậy, chúng tôi cho tằng, thị trường giảm điểm trong giai đoạn qua đã giúp nhiều cổ phiếu về vùng định giá rẻ, thêm vào đó, tâm lý sợ hãi đang bao trùm. Nghiên cứu lịch sử của 2 chỉ báo này, chúng tôi nhận thấy “đây là vùng mua có rủi ro trung hạn thấp nhất”. Ngoài ra, các chỉ báo kinh tế vĩ mô cho thấy nền kinh tế trong nước vẫn duy trì tốc độ phục hồi tốt, chúng tôi khuyến nghị nhà đầu tư nên gia tăng tỷ trọng cổ phiếu.

Tags: ,

Economics | StockAdvisory

Báo cáo chiến lược tháng 04/2015 phần 1

by finandlife09/04/2015 17:21

Tóm tắt diễn biến vĩ mô tháng 03/2015:

§     Tăng trưởng kinh tế phục hồi mạnh trong quý 1 với GDP tăng 6.03% so với cùng kỳ năm trước, là mức tăng cao nhất của quý 1 trong vòng 5 năm qua.

§     Lạm phát ở mức thấp khi CPI tháng 03/2015 tăng nhẹ 0.15% so với tháng trước, bình quân quý 1 tăng 0.74% so với cùng kỳ là mức tăng thấp nhất trong 10 năm trở lại đây.

§     Sản xuất tiếp tục cải thiện nhờ chi phí đầu vào giảm, chỉ số sản xuất công nghiệp IIP quý 1 tăng 9.1%, (cùng kỳ năm trước tăng 5.3%), chỉ số PMI đạt 50.3 điểm. Ước tính nhập siêu 1.8 tỷ USD trong quý 1 để phục vụ sản xuất, gia công, lắp ráp.

§     Cầu tiêu dùng cải thiện khi tổng mức bán lẻ hàng hóa quý 1 tăng 9.2% so với cùng kỳ (sau khi loại yếu tố giá).

§     FDI cả cấp mới và tăng vốn đến 20/3 ước đạt 1.84 tỷ USD, bằng 55.1% cùng kỳ, FDI giải ngân đạt 3.05 tỷ USD, tăng 7%.

§     Thị trường tiền tệ tiếp tục được duy trì ổn định. Khu vực trái phiếu chính phủ, lợi suất giao dịch tăng ở tất cả kỳ hạn.

Tóm tắt diễn biến thị trường và nhận định:

§     VNINDEX đóng cửa ở mức 551.13 điểm, giảm 41.44 điểm, tương đương giảm 7% so với cuối tháng trước. HNXINDEX giảm 3.5 điểm, tương đương giảm 4% so với cuối tháng trước.

§     Trong tháng 3, sự sụt giảm xảy ra ở hầu hết các nhóm ngành, ngoại trừ nhóm Bất động sản (+4%) và Thương mại (+3%). Ngành thuỷ sản có mức độ sụt giảm mạnh nhất (-15%), tiếp theo là Ngành Bảo hiểm (-12%), Khai khoáng (-10%)…

§     Thị trường tiếp tục bước vào tháng 4 với những phiên giao dịch ảm đạm. Điểm số mặc dù có dấu hiệu ngừng rơi nhưng thanh khoản chưa có dấu hiệu cải thiện. Quỹ VNM ETF tiếp tục bị rút ròng tạo tâm lý dè chừng trên thị trường.

§     Chúng tôi cho tằng, thị trường giảm điểm trong giai đoạn qua đã giúp nhiều cổ phiếu về vùng định giá rẻ, thêm vào đó, tâm lý sợ hãi đang bao trùm. Nghiên cứu lịch sử của 2 chỉ báo này, chúng tôi nhận thấy “đây là vùng mua có rủi ro trung hạn thấp nhất”. Ngoài ra, các chỉ báo kinh tế vĩ mô cho thấy nền kinh tế trong nước vẫn duy trì tốc độ phục hồi tốt, chúng tôi khuyến nghị nhà đầu tư nên gia tăng tỷ trọng cổ phiếu.

----------------------------

Các chỉ số chính:

§     Sản lượng sản xuất đạt 53.4 điểm, tăng từ 53.2 điểm tháng trước

§     Đơn đặt hàng mới tăng nhẹ lên 52.3 từ mức 52.2 tháng trước

§     Đơn đặt hàng xuất tăng nhẹ lên 50.9 từ mức 50.8 tháng trước

§     Việc làm mới đạt 50.7 điểm, thấp hơn 51.0 điểm của tháng trước

§     Giá đầu vào tăng đạt 49 điểm, cao hơn 48.7 điểm của tháng trước

§     Giá đầu ra đạt 49.7 điểm tăng nhẹ so với tháng trước (49.6 điểm) 

Trong tháng 03/2015, lĩnh vực sản xuất toàn cầu tiếp tục mở rộng nhưng ở mức khiêm tốn và vẫn chưa ổn định, PMI đạt 51.8 điểm, thấp hơn một chút so với mức 51.9 điểm trong tháng 02, là tháng tăng trưởng thứ 28 liên tiếp.

Tại Mỹ, PMI đạt mức cao nhất trong 5 tháng qua nhờ sự tăng nhanh hơn trong sản xuất và lượng đơn đặt hàng mới.

Khu vực Eurozone, sản xuất tăng mạnh với mức PMI cao nhất trong vòng 10 tháng qua và cao hơn trung bình toàn cầu lần đầu kể từ tháng 4/2014. Trong đó, sản xuất mở rộng tại Đức, Ý, Tây Ban Nha, Hà Lan và Ireland trong khi co hẹp tại Pháp, Áo, và Hy Lạp.

Tại châu Á, tăng trưởng sản xuất đã dịu bớt. Trong đó PMI dưới mốc 50 tại Trung Quốc, Hàn Quốc và Indonesia trong khi mở rộng tại Nhật Bản, Đài Loan và Việt Nam nhưng là yếu hơn so với tháng trước.

Chi phí đầu vào giảm nhẹ trong tháng 03, mức giảm đã dịu so với hai tháng trước, xu hướng tương tự trong giá bán ra.

Nhìn chung, sản xuất toàn cầu tiếp tục mở rộng nhưng tốc độ yếu hơn trong quý 1. Việc sản lượng sản xuất và lượng đơn đặt hàng mới duy trì mức tăng như những tháng gần đây và sự sụt giảm trong hàng tồn kho thành phẩm là những dấu hiện tích cực, kỳ vọng sự phục hồi sẽ tăng tốc trong quý 2.

 

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý I/2015 ước tính tăng 6.03% so với cùng kỳ năm trước, đây là mức tăng cao nhất của quý I trong 5 năm qua.

Khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8.35%, đóng góp nhiều nhất trong mức tăng chung là 2.82 điểm phần trăm. Trong đó, ngành công nghiệp tăng 9.01%, cao hơn nhiều so với mức tăng của một số năm trước, ngành xây dựng tăng 4.40%, thấp hơn mức tăng 5.93% của cùng kỳ năm trước.

Khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản tăng 2.14%, đóng góp 0.28 điểm phần trăm. Trong đó, ngành nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn nhất (khoảng 71%) nhưng tăng thấp ở mức 1.54%, thủy sản tăng 3.38%, lâm nghiệp tăng 6.02%.

Khu vực dịch vụ tăng 5.82%, đóng góp 2.36 điểm phần trăm. Một số ngành có đóng góp lớn vào mức tăng trưởng chung: Bán buôn và bán lẻ tăng 7.11%; dịch vụ lưu trú và ăn uống +5.9%; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 5.65%; hoạt động kinh doanh bất động sản cải thiện với mức tăng 2.55% (năm trước là 2.28%).

Về cơ cấu, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 12.35%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 34.80%; khu vực dịch vụ chiếm 42.23%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 10.62%.

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 03/2015tăng 0.15% so với tháng trướcchủ yếu do ảnh hưởng từ nhu cầu tiêu dùng dịp lễ, Tết nên giá nhiều loại hàng hóa tăng. Mặt khác giá gas và giá xăng dầu trong nước được điều chỉnh tăng cũng tác động vào CPI (đóng góp 0.04% vào mức tăng chung).

Nhóm hàng hóa và dịch vụ có giá tăng cao: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống +0.36%văn hóa, giải trí và du lịch +0.18%nhà ở và vật liệu xây dựng +0.16%.

Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác có giá tăng thấp hơn mức tăng chung hoặc giảm: Thiết bị đồ dùng gia đình +0.09%; thuốc và dịch vụ y tế +0.04%; giáo dục +0.01%; giao thông -0.31%; đồ uống và thuốc lá -0.11%; may mặc, mũ nón, giày dép -0.04%; bưu chính viễn thông -0.02%.

Tổng kết, CPI tháng 03/2015 giảm 0.10% so với tháng 12/2014 và tăng 0.93% so với cùng kỳ năm trướcbình quân quý I năm nay tăng 0.74% so với bình quân cùng kỳ năm 2014, đây là mức tăng thấp nhất trong 10 năm trở lại.

Theo dự báo từ UBGSTKQG, lạm phát cơ bản năm 2015 khoảng 3.5%. Trong điều kiện giá lương thực và năng lượng được dự báo giảm trong năm 2015, khả năng đạt mục tiêu 5% về lạm phát tổng thể sẽ phụ thuộc chủ yếu vào mức độ điều chỉnh giá điện. UBGSTCQG ước tính mức tăng giá điện bình quân 7.5% (ngày 16/3) có ảnh hưởng làm lạm phát cả năm tăng thêm khoảng 0.5 điểm %.

Những đặc điểm chính:

§     Sản lượng và số lượng đơn đặt hàng mới tiếp tục tăng.

§     Chi phí đầu vào tiếp tục giảm mạnh.

§     Việc làm giảm nhẹ.      

Chỉ số PMI ngành sản xuất Việt Nam tháng 03/2015đạt 50.7 điểm, giảm so với mức 51.7 điểm của tháng trước, tuy nhiên vẫn cho thấy sự cải thiện về điều kiện hoạt động trong lĩnh vực sản xuất tháng thứ 19 liên tiếp.

Nhân tố chính giúp cải thiện các điều kiện kinh doanh là cả sản lượng và số lượng đơn đặt hàng mới đều tiếp tục tăng. Sản lượng đã tăng tháng tăng thứ 18 liên tiếp với mức tăng là mạnh. Số lượng đơn đặt hàng mới tăng nhưng mức tăng khiêm tốn. Trong đó, đơn đặt hàng xuất khẩu mới đã tăng sau khi giảm trong tháng trước.

Việc làm ngành sản xuất đã giảm trong tháng 3 sau khi tăng liên tục trong sáu tháng qua, mức giảm là nhẹ một phần do thiếu hụt nhân công.

Chi phí đầu vào tiếp tục giảm mạnh chủ yếu do giá nhiên liệu giảm. Các công ty tiếp tục giảm giá đầu ra tuy nhiên mức giảm là chậm nhất trong 4 tháng qua. Tồn kho thành phẩm đã giảm và mức giảm là mạnh nhất kể từ tháng 6/2014.

Tổng kết, lĩnh vực sản xuất ở Việt Nam tiếp tục mở rộng vào thời điểm cuối quý I, khi các công ty bảo đảm có được số lượng đơn đặt hàng mới lớn hơn từ cả khách hàng trong nước và nước ngoài. Giá cả hàng hóa giảm trên thị trường thế giới tiếp tục góp phần làm giảm giá đầu vào, và nhờ đó các công ty có thể giảm giá bán đầu ra cho khách hàng.

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tháng 03 ước tính tăng 9.1% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I/2015 tăng 9.1%, cao hơn nhiều so với mức tăng 5.3% của cùng kỳ năm trước.

Theo nhóm ngành, khai khoáng +6.7%, đóng góp 1.5 điểm phần trăm vào mức tăng chung; chế biến chế tạo +9.6% đóng góp 6.8 điểm phần trăm; sản xuất và phân phối điện +12.1%, đóng góp 0.8 điểm phần trăm; cung cấp, xử lý nước thải, rác thải +7.8%, đóng góp 0.1 điểm phần trăm.

Một số ngành có chỉ số sản xuất quý I tăng cao so với cùng kỳ năm trước: SX xe có động cơ +42.9%; SX da và các sản phẩm có liên quan +26.1%; SX sản phẩm điện tử, máy tính và quang học +22.6%; SX giấy và các sản phẩm từ giấy +20.4%; dệt +14.7%.

Mức tăng chỉ số sản xuất công nghiệp tại một số địa phương: Thái Nguyên tiếp tục tăng cao ở mức 568.1%; Hải Phòng +15.1%; Quảng Nam +13.4%; Cần Thơ +13.4%; Đồng Nai +8.3%; Đà Nẵng +8.2%; Hà Nội +7.7%; Hải Dương +6.1%; Bình Dương +5.9%; TP.HCM+5.5%.

 

Tại thời điểm 01/03/2015, chỉ số hàng tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10.9% so với cùng thời điểm năm 2014, chỉ số sử dụng lao động tăng 5.4%.

Tổng mc bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 03ước đạt 253.5 nghìn tỷ đồnggiảm6.4% so với tháng trước và tăng 9.4% so với cùng kỳ năm trước.

Trong đó, doanh thu bán lẻ hàng hóa chiếm 77.3%, giảm 5.1% so với tháng trước và tăng 11.1% so với cùng kỳ năm trước. Do tháng 03 là tháng sau tết nên doanh thu một số ngành hàng giảm so với tháng trước: Lương thực, thực phẩm -8.4%; đồ dùng, dụng cụ gia đình -5.7%; phương tiện đi lại -5.1%; vật phẩm văn hoá giáo dục -3.3%; riêng nhóm hàng may mặc giảm nhiều ở mức 10,5%.

Doanh thu dịch vụ lưu trú ăn uống chiếm 10.4%, giảm 17.3% so với tháng trước và tăng 3.3% so với cùng kỳ.

Doanh thu du lịch lữ hành chiếm 0.8%, giảm 7.9% so với tháng trước và giảm 29.4% so với cùng kỳ. Một số địa phương tăng cao: Thừa Thiên Huế +17%, TP. HCM +3.5%, Hà Nội +0.8%, Bà Rịa Vũng Tàu +0.6%.

Doanh thu dịch vụ khác chiếm 11.6%, giảm 3.9% so với tháng trước và tăng 9.7% so với cùng kỳ.

 

Tính chung 3 tháng đầu năm, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 790.8 nghìn tỷ đồng, tăng 10% so với cùng kỳ, loại trừ yếu tố giá tăng 9.2%, cao hơn mức tăng 5.1% của cùng kỳ năm 2014. 

 

VFS Research

Tags: ,

Economics | StockAdvisory

Báo cáo chiến lược tháng 01/2015

by finandlife16/01/2015 09:20

Tóm tắt diễn biến vĩ mô tháng 12 và năm 2014:

  • Tăng trưởng kinh tế cả năm ước đạt 5.98% vượt mục tiêu đề ra 5.8% và cao hơn hai năm trước đó.
  • Chi số giá tiêu dùng tháng 12 chỉ tăng 1.8% so với cùng kỳ 2013 với mức tăng bình quân năm 2014 là 4.09% thấp nhất trong 10 năm gần đây.
  • FDI tăng cao trở lại những tháng cuối năm, tốc độ giải ngân tiếp tục nhanh và ổn định, đạt 12.35 tỷ USD, tăng 7.4% so với cùng kỳ.
  • Cán cân thương mại thặng dư năm thứ ba liên tiếp. Xuất khẩu năm 2014 ước đạt 150 tỷ USD, tăng 13.6% so với 2013 và tăng 9.1% nếu loại trừ yếu tố giá.
  • Mặt bằng lãi suất giảm 1.5-2%/năm so với cuối năm 2013. Tăng trưởng tín dụng dự kiến đạt chỉ tiêu định hướng 12-14% đề ra. Tỷ giá được kiểm soát ổn định với mức dự trữ ngoại hối tăng kỷ lục.

Tóm tắt diễn biến thị trường và nhận định:

  • VNINDEX đóng cửa ở mức 545.63 điểm, giảm 20.95 điểm, tương đương 3.7% so với tháng trước. HNXINDEX đạt 82.98 điểm, giảm 5.1% so với tháng trước.
  • Ngành Nông nghiệp và Ngân hàng có được mức tăng giá mạnh nhất trong tháng qua, trong khi đó các doanh nghiệp dầu khí và cao su bị giảm giá mạnh nhất.
  • Thị trường khởi đầu năm 2015 khá tích cực khi đón nhận những tin tốt về vĩ mô, việc kiến nghị giãn thời gian có hiệu lực của thông tư 36, các quỹ ETF ngoại liên tục tăng chứng chỉ quỹ, nhà đầu tư nước ngoài mua ròng.
  • Nhóm cổ phiếu ngân hàng tiếp tục diễn biến tích cực cùng với đà chững lại của nhóm ngành dầu khí khi GAS ra quyết định mua một lượng lớn cổ phiếu quỹ… Chúng tôi cho rằng thị trường sẽ diễn biết tốt trong 1 vài tuần tới.

----------------------------

CHỈ SỐ PMI LĨNH VỰC SẢN XUẤT THẾ GIỚI

Chỉ số PMI lĩnh vực sản xuất toàn cầu tháng 12/2014 đạt 51.6 điểm, giảm nhẹ so với mức 51.8 của tháng trước, cho thấy tốc độ tăng trưởng tiếp tục vừa phải vào cuối năm với mức tăng sản xuất và các đơn đặt hàng mới là chậm nhất trong vòng gần một năm rưỡi.

Động lực chính trong tăng trưởng đến từ Bắc Mỹ mặc dù đã có những dấu hiệu chậm lại ở Mỹ và Canada, trong khi tăng trưởng duy trì tốt hơn tại Mexico.

Tại châu Á, sản xuất tại Indonesia và Hàn Quốc tiếp tục co hẹp, Trung Quốc vẫn trì trệ, trong khi Ấn Độ tiếp tục tăng trưởng mạnh mẽ và đạt mức đỉnh trong vòng hai năm trở lại, tại Nhật Bản mức mở rộng khiêm tốn hơn.

Sản xuất tại khu vực Eurozone tăng với tốc độ yếu nhất trong vòng một năm rưỡi. Tăng trưởng vững chắc tại Ireland, Tây Ban Nha, Hà Lan và nhẹ hơn ở Đức, Áo, Hy Lạp đã bù đắp phần nào mức co hẹp tại Pháp và Italy.

Tại những nơi khác, tăng trưởng sản xuất chậm lại ở Anh, Thổ Nhĩ Kỳ, đặc biệt sụt giảm mạnh ở Nga, tại Brazil sản xuất mở rộng trở lại nhưng vẫn còn yếu.

Đánh giá triển vọng sản xuất toàn cầu trong ngắn hạn được cho là khá tích cực khi tốc độ tăng sản lượng duy trì trong những tháng gần đây, việc giá dầu giảm mạnh sẽ giúp kích thích tiêu dùng của hộ gia đình và tăng doanh số bán lẻ.

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2014 ước tính tăng 5.98% so với năm 2013, vượt mục tiêu đề ra 5.8% và cao hơn mức tăng hai năm trước đó. Tốc độ tăng trưởng mạnh hơn trong những tháng cuối năm với quý I tăng 5.06%, quý II tăng 5.34%, quý III tăng 6.07%, quý IV tăng 6.96%.

Đóng góp nhiều nhất trong mức tăng chung là khu vực công nghiệp và xây dựng với mức tăng 7.14%, cao hơn nhiều mức 5.43% của năm trước và đóng góp 2.75 điểm phần trăm. Trong đó côngnghiệp chế biến, chế tạo có đóng góp quan trọng với mức tăng cao là 8.45%; ngành xây dựng đã có dấu hiệu phục hồi với mức tăng 7.07%, cao so với mức 5.87% của năm 2013.

Khu vực nông, lâm nghiệp thủy sản tăng trưởng tích cực 3.49%, cao hơn mức 2.64% của năm 2013 và đóng góp 0.61 điểm phần trăm. Trong đó, ngành thủy sản đóng góp quan trọng với mức tăng trưởng cao đạt 6.53%.

Khu vực dịch vụ tốc độ tăng trưởng chậm lại đạt 5.43% và đóng góp 2.62 điểm phần trăm. Một số ngành có đóng góp lớn vào mức tăng trưởng chung: Bán buôn và bán lẻ tăng 6.62%; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 5.88%; hoạt động kinh doanh bất động sản cải thiện với mức tăng 2.85% (năm trước là 2.17%).

Năm 2015, Nghị quyết của Chính phủ đặt ra mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao hơn nay nay, khoảng 6.2%.

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 12/2014 giảm 0.24% so với tháng trước, tăng 1.8% so với cùng kỳ 2013. Bình quân năm 2014 tăng 4.09% so với năm 2013, là mức tăng khá thấp trong 10 năm trở lại.

CPI tháng 12 giảm chủ yếu do giá xăng, dầu trong nước được điều chỉnh giảm, tác động làm chỉ số giá nhóm giao thông giảm 3.09% và nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng giảm 0.99%. Bên cạnh đó, giá gas thế giới giảm mạnh nên giá gas và giá dầu hỏa trong nước được điều chỉnh giảm bình quân lần lượt 6.48% 4.01%cũng là nguyên nhân làm cho CPI tháng 12 giảm so với tháng trước.

Một số nhóm hàng hóa, dịch vụ giữ mức giá tương đối ổn định với mức tăng không đáng kể: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0.08%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0.03%; giáo dục tăng 0.03%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0.07%.

Năm 2014, CPI tăng thấp với bình quân mỗi tháng chỉ tăng 0.15%chủ yếu do: (1) Nguồn cung lương thực, thực phẩm trong nước dồi dào;(2) Giá các mặt hàng thiết yếu trên thế giới khá ổn định; (3) Giá nhiên liệu trên thị trường thế giới, nhất là giá dầu thô thời gian gần đây giảm mạnh và đang tiếp tục giảm dẫn đến giá xăng, dầu trong nước được điều chỉnh giảm. Theo NHNN, nếu loại trừ các tác động đột biến ngoài dự tính, lạm phát bình quân năm 2014 ở khoảng 4.85%, sát với định hướng 5% đề ra.

Năm 2015, Chính phủ tiếp tục đề ra mục tiêu kiểm soát lạm phát khoảng 5%.

Chỉ số PMI ngành sản xuất Việt Nam tháng 12/2014 đạt52.7 điểm, tăng so với mức 52.1 của tháng 11 ghi nhận mức mở rộng tháng thứ 16 liên tiếp.

Mức độ cải thiệncác điều kiện hoạt động là cao nhất trong vòng 8 tháng qua khi sản lượng và số lượng đơn đặt hàngmới tăng mạnh, các công ty tiếp tục tăng số lượng nhâncông với tốc độ nhanh.

Kết quả khảo sát cho thấy nhu cầu đãtăng cả trong nước và quốc tế. Số lượng đơn đặthàng xuất khẩu mới đã tăng nhanh và chỉ thay đổi mộtchút so với tháng 11.

Các công ty cũng muốn tănglượng hàng tồn trong bối cảnh sản xuất dự kiến tiếptục tăng trưởng. Việc làm mới tăng tháng thứ 4 liên tiếp nhưng là chậm nhất kể từ tháng 9.

Về mặt giá cả, chi phí đầu vào trung bình đã tiếp tục giảm khi giá cả của nhà cung cấp, chi phí vận chuyển và giá nhiên liệuđều đã giảm so với tháng 11. Mức giảm là mạnh nhất kể từ tháng 7/2012. Theo đó, các nhà sản xuất đã giảm giácả đầu ra trung bình trong tháng 12với mức độ mạnh nhất một năm rưỡi qua.

Lĩnh vực sản xuất Việt Nam tiếp tục gia tăng hưởng lợi từ mức độ cạnh tranh về chi phí nhân công và giá cả đầu vào thấp. Kỳ vọng sản lượng tiếp tục tăng trong những tháng tới tuy nhiên sẽ chậm lại đôi chút vào mùa Tết nguyên đán.

 

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tháng 12 ước tính tăng 4.6% so với tháng trước và tăng 9.6% so với cùng kỳ năm 2013.

Tính chung cả năm 2014, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp ước tính tăng 7.6% so với năm 2013, cao hơn nhiều so với mức tăng 5.9% của năm 2013, nhìn chung ghi nhận sự phục hồi của tất cả các nhóm ngành.

Đóng góp nhiều nhất trong mức tăng chungngành chế biến, chế tạo tăng 8.7% (cao hơn mức tăng 7.3% năm 2013), đóng góp 6.2 điểm phần trăm.

Một số nhóm ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có mức tăng trưởng cao tập trung chủ yếu ở các thị trường xuất khẩu ổn định, tỷ trọng cao như: dệt may, da giày, sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học đã góp phần đáng kể vào mức tăng chỉ số công nghiệp năm 2014.

Chỉ số tiêu thụ công nghiệp tính đến hết tháng 11/2014 tăng 11.1% so với cùng kỳ năm 2013 (cao hơn mức tăng 9.2% của cùng kỳ năm 2013).

Chỉ số hàng tồn kho của toàn ngành giảm dần theo từng tháng, tại thời điểm 1/12/2014 tăng 10% so với năm 2013 và hiện đã ở mức bình thường.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 12 đạt 273.3 nghìn tỷ đồng, tăng 2.6% so với tháng trước và tăng 8.6% so với cùng kỳ năm trước.

Tính chung cả năm 2014,tổng mức bán lẻ ước đạt 2,945 nghìn tỷ đồng, tăng 10.6% so với năm 2013, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 6.3%, mặc dù cao hơn mức tăng cùng kỳ (năm 2013 là 5.6%, năm 2012 là 6.2%) nhưng vẫn khá chậm và khiêm tốn.

Trong đó, bán lẻ hàng hóa chiếm 75% tổng sốtăng 11.3% so với năm 2013 bao gồm: Lương thực, thực phẩm +1.7%; hàng may mặc +4.3%; đồ dùnggia đình +16%; vật phẩm văn hoá, giáo dục +33.2%; phương tiện đi lại tăng +27.9% (chủ yếu do tăng doanh số bán lẻ ô tô); xăng, dầu +2.5%; sửa chữa ô tô, xe máy +17.2%.

Dịch vụ lưu trú ăn uống chiếm 12% và tăng 7.4%; dịch vụ khác chiếm 11.8% và +9.4%; du lịch lữ hành chiếm 1% và +15.3%.

Trong tổng mức bán lẻnăm nay, khu vực kinh tế Nhà nước chiếm 10.2% tổng số và tăng 9.6% so với năm 2013; kinh tế ngoài Nhà nước chiếm 86.5%, tăng 10.5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 3.3%, tăng 16.9%.

Xuất khẩu tháng 12 ước đạt 13.1 tỷ USD, giảm1% sovới tháng trước và tăng 13.5% so với cùng kỳ 2013.Tính chung cả năm 2014, hàng hóa xuất khẩu ước tính đạt 150 tỷ USD,tăng 13.6% so với năm trước và tăng 9.1% nếu loại trừ yếu tố giá. Trong đó, khu vực trong nước tăng 10.4%, mức tăng cao nhất từ năm 2012khu vực đầu tư nước ngoài tăng 16.7% ((không kể dầu thô).

Nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản chiếm tỷ trọng xuất khẩu lớn nhất 44.3% và tăng 12% so với cùng kỳ. Nhóm hàng thủy sản tăng mạnh nhất 17.6% và chiếm tỷ trọng 5.2%.

Nhập khẩu tháng 12 ước đạt 14 tỷ USD, tăng 9.4% so với tháng trướctăng 15.5% so với cùng kỳ. Tính chung cả năm 2014, nhập khẩu ước đạt 148 tỷ USD, tăng 12.1% so với năm trước.Một số mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu lớn tăng so với năm 2013: Điện tử, máy tính và linh kiện đạt +6%; điện thoại các loại và linh kiện +6.7%; ô tô +53.1%. Nhóm hàng tư liệu sản xuất vẫn là nhóm hàng chiếm tỷ trọng lớn nhất với 91.2%

Uớc tính xuất siêu năm 2014 khoảng 2 tỷ USD, cao nhất kể từ năm 2012 nhưng hiệu quả mang lại cho nền kinh tế chưa cao khi giá trị gia tăng hàng xuất khẩu khu vực vốn đầu tư nước ngoài thấp với chủ yếu là hàng gia công, chế biến trong khi khu vực trong nước vẫn nhập siêu mạnh.

Tính đến ngày 15/12/2014, cả nước có 1,588 dự án mới được cấpphép mới với số vốn đăng ký đạt 15.64 tỷ USD, tăng 9.6% so với cùng kỳ. Tính chung cả cấp mới và tăng vốn năm 2014, FDI ước đạt 20.23 tỷ USD, bằng 93.5% so với cùng kỳ và tăng 19% so với kế hoạch 17 tỷ USD. FDI giải ngân năm 2014 ước đạt 12.35 tỷ USD, tăng 7.4% so với cùng kỳ và tăng 2.9% so với kế hoạch 2014.

Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo là lĩnh vực thu hút FDI nhiều nhất chiếm 71.6%tổng vốn đăng ký; ngành kinh doanh bất động sảnchiếm 12.6%; ngành xây dựng chiếm 5.2%. Hàn Quốc dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đăng ký mới và tăng thêm là 7.32 tỷ USD, chiếm 36.2% tổng FDI.

Tính tới ngày 19/12/2014, tổng phương tiện thanh toán tăng 15.65% so với cuối năm 2013, phù hợp với chỉ tiêu định hướng 14-16% đề ra; huy động vốn tăng 15.15%, trong đó huy động vốn bằng VND tăng khá cao 16.31%, thanh khoản của các TCTD được đảm bảo và dư thừa.

Tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống hết đến 19/12/2014 tăng 11.18% so với cuối năm 2013, dự kiến cả năm 2014 đạt chỉ tiêu định hướng 12-14% đề ra. Cơ cấu tín dụng tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực, tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ.

Năm 2015, NHNN đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng 13-15%, tổng phương tiện thanh toán tăng từ 16-18%.

Cuối năm 2014, mặt bằng lãi suất đã giảm 1.5-2%/năm so với cuối năm 2013thấp hơn mức lãi suất của giai đoạn 2005-2006. Trong đó, lãi suất huy động giảm 1.5-2%/năm; lãi suất cho vay giảm khoảng 2%/nămở mức 7-9%/năm đối với ngắn hạn và 9.5-11%/năm đối với trung và dài hạn đối với các lĩnh vực sản xuất kinh doanh thông thường.

Lãi suất của các khoản vay cũ tiếp tục được các TCTD tích cực điều chỉnh giảm: dư nợ vay VND lãi suất trên 15%/năm chiếm khoảng 3.9% tổng dư nợ; dư nợ lãi suất trên 13%/năm chiếm 10.65%. Lãi suất nội tệ liên ngân hàng ổn định ở mức thấp.

Tháng 12/2014, thị trường trái phiếu sơ cấp huy động được hơn 31.9 nghìn tỷ đồng trái phiếu Chính phủ, tăng mạnh 5 lần so với tháng trước. Giao dịch thị trường thứ cấp đạt hơn 131.4 nghìn tỷ đồng, tăng 26.3% so với tháng 11 với lợi suất giao dịch cuối tháng đã tăng lên ở tất cả các kỳ hạn.

Tính chung cả năm 2014, lượng TPCP phát hành đạt kỷ lục 234 nghìn tỷ đồng, tăng 30% so với khối lượng huy động năm 2013 với kỳ hạn kéo dài so với các năm trước. So với cuối năm 2013, mặt bằng lãi suất thời điểm cuối năm 2014 giảm khoảng 1.30%-3.70% đối với các kỳ hạn.

Năm 2015, lợi suất TPCP được dự báo sẽ tăng khi kế hoạch phát hành TPCP sẽ tiếp tục tăngđể bù đắp số tiền thâm hụt ngân sách dự kiến và đảo nợ.

Năm 2014 được xem là một năm khá thành công trong nhiệm vụ kiểm soát biến động tỷ giá của NHNN. Mặc dù đã có 03 lần nóng lên và biến động khá mạnh, NHNN đã chỉ điều chỉnh tăng 1% vào ngày 19/6/2014 và tiếp tục bán ra ngoại tệ dự trữ để giữ vững cam kết ổn định tỷ giá.

Đến ngày 31/12/2014, tỷ giá giao dịch BQ liên ngân hàng là 21,246 VND/USD. Tỷ giá bán USD của các NHTM khoảng 21,320-21,405 VND/USD, ở mức cao tương đương tháng 11. Thị trường tự do, tỷ giá tăng mạnh có lúc chạm mức 21,580-21,605 VND/USD.

Năm 2015, NHNN mục tiêu sẽ tiếp tục giữ ổn định tỷ giá VND/USD phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, tiền tệ, và nếu có điều chỉnh dự kiến sẽ không quá 2% để hỗ trợ xuất khẩu mà vẫn đảm bảo kiểm soát lạm phát.

Trước những diễn biến về cơ bản ổn định của tỷ giá và thị trường ngoại hối, niềm tin vào VND được củng cố, NHNN tiếp tục mua được ngoại tệ để bổ sung Dự trữ ngoại hối Nhà nước lên mức kỷ lục.

Tình trạng đô la hóa tiếp tục giảm (tỷ lệ tiền gửi ngoại tệ/tổng phương tiện thanh toán đạt khoảng 11.6%, giảm so với mức khoảng 12.4% của cuối năm 2012-2013).

Tháng 12/2014, giá cả hàng hóa giảm 12%so với tháng trước khi giá năng lượng sụt giảm đến 18.1%, chủ yếu phản ánh mức giảm mạnh của giá dầu khi chạm mốc 56 USD/thùng ngày 31/12 với mức giảm trung bình năm thấp kỷ lục kể từ 2008. Giá cả hàng hóa nhóm nông nghiệp và kim loại lần lượt giảm 3% và 5%.

Trong khi giá dầu tiếp tục giảm điểm, tại thị trường tương lai cho thấy sự gia tăng dự kiến trong giá dầu, chỉ báo thị trường ít biến động hơn, hoặc một số cắt giảm trong nguồn cung. 

Giá cả hàng hóa kim loại dự kiến sẽ không thay đổi khi thị trường được dự báo sẽ ổn định. 

Giá xăng dầu vẫn được dự kiến sẽ giảm trong suốt mùa đông và tăng qua các tháng mùa hè. Giá gas tự nhiên ở Mỹ dự kiến biến động theo mùa, tăng qua những tháng lạnh và suy giảm trong suốt mùa hè.

 

Hàng hóa nông nghiệp dự báo sẽ tăng giảm tùy theo loại trong năm tới, khi giá lúa mì, ngô và cà phê được dự kiến sẽ tăng lên, trong khi giá đậu tương và bột đậu tương được dự kiến sẽ giảm. Trong khi đó, giá gạo được dự kiến sẽ vẫn không thay đổi so năm trước.

Thị trường chứng khoán trong tháng 12 tiếp tục xu hướng giảm điểm từ những tháng trước đó. Chỉ số VNINDEX hồi phục nhẹ từ mức 566.68 lên 578.76 điểm trong tuần đầu, sau đó giảm mạnh xuống mức 518.22 điểm trong gần 2 tuần tiếp theo với độ dốc tương đối lớn. Những thông tin về việc giá dầu thô giảm và thông tư 36 tiếp tục tác động tiêu cực đến tâm lý chung, khiến thị trường giảm sâu.

Đà giảm của chỉ số VNINDEX bắt đầu chững lại và phục hồi trong 10 phiên giao dịch cuối cùng tháng 12 với những thông tin vĩ mô tích cực như GDP tăng trưởng vượt kế hoạch và dự báo… cùng với việc khối ngoại bắt đầu mua ròng trở lại.

Kết thúc phiên giao dịch cuối tháng 12/2014, VNINDEX đóng cửa ở mức 545.63 điểm, giảm 20.95 điểm, tương đương 3.7% so với tháng trước. Thanh khoản trung bình trong tháng đạt 1,684.3 tỷ đồng/phiên, giảm 19.9% so với thanh khoản trung bình tháng trước.

Chỉ số HNXINDEX cũng diễn biến khá tương đồng với VNINDEX trong tháng. Kết thúc phiên giao dịch cuối tháng, chỉ số này đạt 82.98 điểm, giảm 5.1% so với tháng trước. Thanh khoản trung bình đạt 715.7 tỷ đồng/phiên, giảm 23.4% so với thanh khoản trung bình tháng trước.

Tính chung trong tháng 12, khối ngoại đã mua ròng 20.5 tỷ đồng trên cả 2 sàn, kết thúc 4 tháng bán ròng liên tiếp trước đó. Đáng chú ý, khối ngoại đã quay trở lại mua ròng trong khoảng 8 phiên cuối cùng của tháng giúp đà giảm của thị trường chững lại và phục hồi.

Top 5 cổ phiếu được khối ngoại mua ròng mạnh nhất trong tháng bao gồm SSI (586.7 tỷ), MWG (142.6 tỷ), IJC (94.8 tỷ), VHC (88.2 tỷ) và DPM (85.2 tỷ). Trong khi đó Top 5 cổ phiếu bị khối ngoại bán ròng mạnh nhất gồm STB (-506.6 tỷ), HAG (-427 tỷ), PVS (-179.1 tỷ), PVD (-103.9 tỷ), FLC (-93.2 tỷ).

Đáng chú ý trong tháng có hoạt động Review của 2 quỹ ETF ngoại đang hoạt động trên thị trường. Cụ thể, trong tháng, quỹ VNM bị rút 24.2 triệu USD và quỹ FTSE bị rút 19.7 triệu USD. Hiện tại cùng với xu hướng mua ròng trở lại của khối ngoại, số lượng chứng chỉ quỹ của các quỹ này cũng đang tăng dần trở lại.

Chúng tôi cho rằng khối ngoại quay trở lại mua ròng liên tục trong những phiên cuối cùng của tháng 12 là một tín hiệu tích cực cho thịtrường trong thời gian tới, trong bối cảnh nền kinh tế vĩ mô trong nước tiếp tục phục hồi và mặt bằng giá cổ phiếu đang trở nên hấp dẫn hơn.

Trong tháng này, hầu hết các nhóm ngành đều sụt giảm theo thị trường chung. Duy chỉ có ngành Nông nghiệp và Ngân hàng có được mức tăng, trong đó nhóm Ngân hàng tăng mạnh 13.7% trong tháng với những cổ phiếu tăng mạnh như VCB, EIB…

Trong khi đó các doanh nghiệp Dầu khí, Cao su… là nhóm giảm điểm mạnh nhất trong tháng.

XU HƯỚNG THỊ TRƯỜNG THÁNG 1/2015

Nối tiếp đà phục hồi cuối tháng 12/2014, thị trường tiếp tục tăng điểm trong tuần đầu tháng 1/2015 với một số thông tin vĩ mô tích cực như chỉ số PMI lĩnh vực sản xuất Việt Nam đạt 52.1 điểm, một số thông tin liên quan đến kiến nghị giãn thời gian có hiệu lực của thông tư 36, các quỹ ETF ngoại liên tục tăng chứng chỉ quỹ…

Nhóm cổ phiếu Ngân hàng tiếp tục diễn biến tích cực trong tuần đầu tháng 1 với sự dẫn dắt của VCB. Nhóm Dầu khí có những phiên tăng mạnh khi giá dầu thế giới có dấu hiệu ngừng rơi cùng với việc PVGAS ra nghị quyết mua lại cổ phiếu quỹ…

Chúng tôi cho rằng, thị trường sẽ tiếp tục diễn biến tích cực trong vài phiên tới, theo sau đà tăng của nhóm cổ phiếu vốn hoá lớn như Ngân hàng, dầu khí và giao dịch của các quỹ ETF… Dòng tiền trong quý 1 sẽ có sự phân hoá mạnh mẽ khi kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp niêm yết dần được công bố.

Rủi ro của thị trường trong tháng 1 vẫn là thời hạn của thông tư 36. Nếu kiến nghị giãn thời gian có hiệu lực không được thông qua, thông tư 36 sẽ chính thức có hiệu lực vào ngày 1/2/2015. Áp lực đáp ứng quy định của thông tư này dự kiến sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến thị trường trong tháng 1.

 

Nguồn: VFS Research

Tags: ,

Economics

AUTOFEED

DISCLAIMER

I am an Investment Manager at TOP 2 Securities Co., in Vietnam. I started working in investment field as a junior analyst at a Fund in 2007. I have more than 13 years of experience in investment analysis. I have a deep understanding of Vietnam macroeconomics, equity research, and seeking investment opportunities. Besides, I am a specialist in derivatives, ETF, and CW. This is my private Blog. I use this Blog to store information and share my personal views. I don't guarantee the certainty. And I am not responsible when the user uses the information from the Blog for trading/investing activities. If you have any questions, please feel free to contact me via email thuong.huynhngoc@gmail.com. 

Designed by: Nguyễn Chí Hiếu