Các giám đốc quản lý quỹ nhìn nhận tháng 12/2013 là thời gian FED sẽ bắt đầu taper

by finandlife14/10/2013 09:13

Theo kết quả khảo sát các giám đốc quỹ của BofA Merrill Lynch vào tháng 10, các quản lý quỹ hầu hết cho rằng thời gian FED sẽ cắt giảm chương trình QE3 là vào tháng 12 năm 2013 (37%), 31% cho rằng taper sẽ diễn ra từ tháng 01/2014.

 

 

 

Theo đó, hành động đầu tư được quan tâm nhiều nhất là, 29% vào chứng khoán Mỹ, 23% vào bán trái phiếu Mỹ, 21% đặt cược vào cặp tiền tệ USD/JPY…

Nguồn: finandlife|Businessinsider

Tags:

Economics

Đâu là hạnh phúc bạn đang có

by Life13/10/2013 09:33

"Chúng ta chỉ cảm thấy giá trị thật sự của hạnh phúc cho đến khi chúng ta đã đánh mất hoặc sắp sửa mất nó"

Vị vua nọ đang đi công du trên một chiếc tàu thì gặp cơn bão lớn. Gió to, sóng dữ gầm thét như muốn quật đổ những cột buồm và nuốt chửng con tàu. Một người trong đoàn tùy tùng nhà vua trước đây chưa từng ra biển nên vô cùng hoảng sợ. Anh ta khóc thét lên trong nỗi sợ hãi và mỗi lúc một to hơn. Không ai trên tàu có thể trấn an anh ta được.

Trong cơn giận dữ nhà vua thét lên:

- Có ai ở đây có thể làm cho tên hèn nhát kia câm miệng lại được không?

Ngài hỏi đến lần thứ ba, vẫn không một ai trong đám cận thần lên tiếng. Cuối cùng có một người bước ra, ông ta là một hành khách trên tàu.

- Tôi nghĩ là tôi có thể khiến cho anh ta im lặng nếu tôi được tòan quyền làm điều đó.

Một thoáng do dự, nhưng vì nóng lòng muốn biết cách của người hành khách đó nên nhà vua ra lệnh:

- Làm ngay đi! Ta cho phép nhà ngươi.

Người khách liền ra lệnh những người lính ném anh ta xuống biển. Rơi xuống biển lạnh giá đầy sóng lớn, anh ta gào lên khiếp sợ và vùng vẫy trong hoảng loạn, cố tìm mọi cách ngoi lên mặt nước. Ít giây sau, người khách cho thả phao kéo anh ta lên. Khi bám được thành tàu, dù mệt rũ rượi và nét mặt lộ rõ vẻ kinh hoàng, nhưng anh ta đã hoàn toàn im lặng.

Quá ngạc nhiên và ấn tượng về những gì vừa diễn ra, nhà vua bèn hỏi người khách lạ tai sao anh ta có thể biết trước được như vậy. Người khách đáp:

- Chúng ta không bao giờ nhận ra những điều bình dị mà quý giá đang có trong mọi tình huống, cho đến khi chúng ta rơi vào một tình trạng thực sự tồi tệ hơn.(truyenngan.com.vn)

Tags:

StoriesofLife

Nước mắt rơi chung

by Life13/10/2013 09:26

Bạn rơm rớm nói, ông tặng cái chết của mình cho người dân như một cơn mưa phúc lành. Họ, cũng như bọn tôi, ẩn nỗi tiếc thương ông già rực rỡ đó, thấy tâm hồn mình bỗng dưng liền sẹo, bâng khuâng vì ý nghĩ mình cũng còn khả năng khóc cho một người dưng.

Bạn nói có thể chị đàn bà đứng nức nở trên phố Hoàng Diệu ấy vừa đóng quầy may sẵn ở chợ Đồng Xuân, bạn đã bị chị mắng một lần vì "nói giọng miền Nam mà còn mặc cả". Có thể người đàn ông mếu máo đặt mấy bông cúc vàng ở hàng rào ngôi nhà số 30 kia vừa chạy xong cuốc xe ôm, bạn đã từng bị anh chở đi đường vòng để lấy tiền cho ngọt. Nhưng những va quệt đã từng gặp phải trên đất Hà Nội đã trôi hết, xí xóa hết trong bạn vì những người đã đến khóc trước nhà vị tướng vừa qua đời, trong bản tin tối.

Ti vi trong quán ăn tiếng được tiếng mất, nhưng bọn tôi chừng như nghe được tiếng nước mắt chảy. Không chỉ từ những gương mặt lướt qua trên màn hình, mà còn từ những người không xuất hiện trên ti vi như bạn, hay từ trong lòng những người giả bộ mình cứng cỏi, như tôi. Tự nhận là già rồi, nghi ngờ cả nước mắt, nhưng bạn nói lần này bỗng tin những người kia cảm động thật lòng. Mà ông tướng đó cũng không phải ruột thịt, hay họ hàng xa, hay láng giềng ở cạnh nhà. Ông giỏi thì khỏi nói, cái đó cả thế giới chịu rồi, "nhưng tụi mình đâu phải thương chỉ mỗi chuyện đó", bạn quệt cùi tay chùi nước mắt, nói, "nghĩ tới ông như là nghĩ tới ông nội mình, không hề có cảm giác xa xôi vĩ đại". Bàn bên mấy anh đòi nợ mướn cũng thôi chửi thề một con nợ khó nhằn, một anh buột miệng "nhìn ổng hiền như con cọp ăn chay". Màn hình đông chừng mười lăm giây nụ cười hồn hậu của ông tướng. Tự biết trong lòng người dân, hình ảnh ấy còn đọng lại rất lâu.

Bạn tôi tin hồi tại thế ông sống như mình có, không cố ý sống sao cho dân phải khóc khi lìa cõi tục. Tự nhiên từ khí chất. Thấy ông tưới phong lan, cũng lui cui như ông già kế bên nhà. Thấy nụ cười, biết rằng những oan khuất nhục vinh đã bị ông phẩy tay bỏ lại. Chỉ dân là ông không quên, khi thỉnh thoảng gửi báo những bài viết tâm huyết đóng góp cho chính sách dân sinh.

Mấy hôm trước cà phê sáng với nhau bạn còn kêu xã hội nhìn đâu cũng rẽ chia xáo xác. Sẵn sàng cãi nhau vì một cuốn sách, ông xài điện thoại Mỹ tôi dùng điện thoại Hàn, vì em mê nhạc sến anh thích sang. Cảm giác loạn lạc từ chính trường cho tới từng mái ấm, từng cái tổ của mỗi người. Đi bên bờ vực ai không chịu được nấy rơi, tưởng không có gì ngăn lại được dòng người chèn lấn. Bỗng tất thảy họ dừng lại chỉ vì một hơi thở vừa dứt vô phương

nối lại. Bạn rơm rớm nói, ông tặng cái chết của mình cho người dân như một cơn mưa phúc lành. Họ, cũng như bọn tôi, ẩn nỗi tiếc thương ông già rực rỡ đó, thấy tâm hồn mình bỗng dưng liền sẹo, bâng khuâng vì ý nghĩ mình cũng còn khả năng khóc cho một người dưng.

Cách khóc mỗi người mỗi khác, có người tận nhà ông già cúi đầu đặt bó hoa, người ở xa ngồi trước ti vi lén kéo chéo áo lau đuôi mắt, người nuốt trộng vào lòng, người lại thở hắt ngậm ngùi "rồi ai cũng về, người ở đến gần một trăm lẻ ba năm chớ đâu ít ỏi gì, mà sao ai cũng tiếc. lại có người ở mới sáu mươi mà dân ngán ngẩm thôi rồi". Chỗ này chỗ kia, tiếng khóc chưa bao giờ tạnh của những người trót sinh ra trên đời này, nhưng không mấy khi cả triệu người cùng chung một niềm mất mát.

Bạn nói có bốn trong mười phần nước mắt đã chảy ra, chúng ta khóc cho việc sau này chẳng còn ai đủ lớn để dân còn có thể thương chung, khóc cùng. Cúi đầu trước ông, cũng đồng nghĩa bày tỏ thái độ với những ông quan còn đang sống.(truyenngan.com.vn)

Tags:

StoriesofLife

Những quốc gia mua Trái phiếu Chính phủ Mỹ nhiều nhất thế giới

by finandlife11/10/2013 14:06

Mỹ là con nợ của Cả thế giới này. Ai cũng muốn con nợ của mình làm ăn ổn định và tiếp tục phát triển đúng không ạ? Điều này một phần có ý nghĩa “Mỹ là con cưng của cả thế giới”. Chính vì vậy mà Trung Quốc (quốc gia sở hữu trái phiếu ngân khố Mỹ lớn nhất thế giới, lên đến 1.28 ngàn tỷ USD) lo ngay ngáy vụ chính phủ Mỹ đóng cửa (shut down) hiện nay.

 

Nguồn: finandlife|Marc To Market

Tags:

Economics

Lợi thế thương hiệu

by finandlife07/10/2013 11:35

Đây là một bài viết khá giá trị cho những chuyên viên phân tích tài chính của GS Damodaran. Tôi lượt dịch bài viết này để phục vụ cho các bạn làm tài chính.

 

Gân đây, một bảng xếp hạng thương hiệu toàn cầu đã được phát hành. Đây là một tin tức khá nổi bậc và được nhiều người tham khảo. Theo đó, những thương hiệu từ những công ty công nghệ như APPLE và GOOGLE… đã thay thế vị thế dẫn đầu của Coca Cola trong vài năm gần đây. Các bạn có thể xem danh sách 10 thương hiệu hàng đầu năm 2012 và 2013 dưới đây.

Theo tính toán của tổ chức công bố xếp hạng, giá trị thương hiệu của APPLE là 98.3 tỷ USD và Coca Cola là 79.2 tỷ đô.

Tại sao định giá thương hiệu có ý nghĩa quan trọng?

Ngay cả bạn là nhà đầu tư hay nhà tài chính doanh nghiệp, thì có lúc bạn cũng phải trả lời những câu hỏi như thương hiệu có ảnh hưởng thế nào trong tìm kiếm lợi nhuận và đóng góp bao nhiêu vào giá trị doanh nghiệp? Dưới đây là một số gợi ý:

1.    Danh số của thương hiệu: nếu một công ty đang xem xét bán đi thương hiệu của chính nó, trong lúc vẫn giữ lại những tài sản hữu hình, bạn phải có khả năng định giá được thương hiệu độc lập so với toàn bộ doanh nghiệp.

2.    Những tranh chấp pháp lý (legal disputes) về thương hiệu: Thương hiệu trở thành một chủ đề của những tranh chấp pháp lý, với đòi hỏi của các bên được chia phần lớn giá trị. Nếu không biết cách định giá thương hiệu và không biết những nhân tố dẫn dắt nó thì bạn không thể chia phần cho các bên tranh chấp.

3.    Tính toán giá trị hợp lý: Sự thay đổi trong kế toán đối với giá trị hợp lý từ giá trị sổ sách ban đầu đã mở cánh cửa để những kế toán viên cố gắng ước lượng giá trị tài sản vô hình (intangibles) chẳng hạn thương hiệu, giá trị nhận biết và danh sách khách hàng. (Tôi không nghĩ đây là ý kiến hay và đã nói thế trong diễn đàn này).

Từ góc độ marketing (marketing perspective), nơi mà thương hiệu đã chiếm dữ lịch sử với một vị trí trung tâm, bạn cần phải hiểu điều gì dẫn dắt thương hiệu và cách định giá nó trong những tình huống sau:

1.    Chi phí quảng cáo và định giá: nếu một trong những vai trò của quảng cáo là đang xây dựng nên thương hiệu, thông hiểu thương hiệu giá trị bao nhiêu là chìa khóa cho cả việc bạn sẽ bỏ ra bao nhiêu cho quảng cáo và cách bạn chi tiêu cho quảng cáo. Nó cũng là một thành tố cực kỳ quan trọng trong đánh giá (assessing) hiệu quả của quảng cáo mang lại một giá trị thương hiệu cao hơn.

2.    Định giá và những quyết định sản phẩm (product decisions): những sản phẩm mà bạn chào và giá của chúng bao nhiêu sẽ ảnh hưởng giá trị thương hiệu của bạn. Vì vậy, nếu bạn là một thương hiệu ưu tú, bạn có thể không chọn giới thiệu sản phẩm với mức giá thấp hơn mà không sợ nó sẽ tổn thương thương hiệu của bạn và đó chính là giá trị của bạn.

Sức mạnh của một thương hiệu

Trong khi có một số người gộp chung tất cả lợi thế cạnh tranh được sở hữu (possessed) bởi một công ty vào khoảng mục “thương hiệu”, thì tôi nghĩ tốt hơn hết chúng ta nên tách riêng (isolating) thương hiệu với những lợi thế cạnh tranh khác. Với cách nghĩ này, tôi tin một số bạn sẽ không đồng tình (take issue with=to disagree with something).

Sức mạnh thương hiệu: sức mạnh để charge một mức giá cao hơn những đối thủ cạnh tranh cho một sản phẩm hoặc dịch vụ giống hệt nhau hoặc gần giống hệt nhau (identical).

Để cung cấp một minh họa (illustration) về sức mạnh thương hiệu thuần túy (pure brand nam power), tôi đã đi dạo một vòng qua các tiệm thuốc địa phương và đã tìm thấy hai lọ thuốc giảm đau sau (painkiller aisle):

Thuốc Aspirin có giá là 2.25 USD và phiên bản Bayer có giá đến 6 USD. Aspirin, tất nhiên là thế, đã hết hợp đồng phát minh sáng chế (patent) cả thập kỷ và những thành phần trong Bayer Aspirin và Aspirin thông dụng kia là hoàn toàn giống nhau. Rõ ràng, mặc dù, có những khách hàng chấp nhận trả nhiều tiền hơn cho Bayer Aspirin, bất kể (notwithstanding) sự thật đó. Thật tế, bạn có thể tìm rất nhiều ví dụ về cái giá của thương hiệu so với không thương hiệu ở những cửa hàng bách hóa và dược phẩm.

Vì vậy, điều gì lý giải sức mạnh định giá của thương hiệu? Dễ dàng nhật thấy đó là sự bất hợp lý của người tiêu dùng, nhưng tôi sẽ không dám phán thế, bởi vì tôi chắc rằng chúng ta hầu như mắc cái lỗi bất hợp lý này, nếu không với Aspirin, thì cũng với những sản phẩm khác. Sức mạnh thương hiệu là một lời chứng thực (testimonial) lý giải cách chúng ta lựa chọn như những khách hàng về những sản phẩm không chỉ bởi vì đặc tính của sản phẩm và giá cả, mà còn bởi một loạt (array) nhân tố hành vi. Bí mật tạo ra giá trị thương hiệu vẫn được bao phủ trong bí ẩn. Nếu chỉ bỏ tiền cho quảng cáo, những khoản chi tiêu quảng cáo lớn có thể ưu thế (dominate) trong danh sách thương hiệu này nhưng có nhiều người không khoe khoang. Ngược lại (conversely), có những công ty mà dường như giá trị thương hiệu được xây dựng nhanh trong trong giai đoạn ngắn: Snapple 1990s, Lululemon và Under Armor vài năm trước. Giá trị thương hiệu như là một công thức của sự may mắn và ăn hên (serendipity) hơn là công thức được lênh kế hoạch và được thiết kế bài bản.

Giá trị của một thương hiệu

Nếu bạn chấp nhận định nghĩa sức mạnh thương hiệu của tôi, quá trình định giá nó sau đó trở nên đơn giản, ít nhất là về mặt nguyên lý (adstract). Nó sẽ yêu cầu bạn trả lời câu hỏi sau: Nếu bạn là một công ty có thương hiệu và bạn đánh mất thương hiệu của mình qua 1 đêm. Chuyện gì sẽ xảy ra với giá trị công ty?

So sánh vốn hóa thị trường của Coca Cola với vốn hóa thị trường một nhãn hiệu tương tự sẽ nói với bạn chút ít về giá trị thương hiệu. Trong khi so sánh những chỉ số định giá so sánh như PE, PB, hay EV/Sales giữa những công ty và những đối thủ cùng lĩnh vực khá hữu ích. Chỉ một con đường để định giá thương hiệu là sử dụng mô hình giá trị nội tại, xác nhận những nhân tố tác động đến giá trị và sau đó nhìn cái cách mà công ty thương hiệu và những đối thủ tương tự khác nhau thế nào đối với từng nhân tố đó.

Coca Cola. Mặc dầu nó đã rớt khỏi vị trí dẫn đầu trong năm nay, nhưng nó vẫn là một thương hiệu biểu tượng (iconic), được nhận biết bởi hầu hết mọi nơi trên thế giới. Để định giá thương hiệu của công ty, trước tiên tôi phải nhận diện sự khác nhau giữa những ma trận định giá then chốt giữa Coca Cola và đối thủ tương tự trong ngành của nó. Trong trường hợp này, tôi có thể tìm thấy một công ty sản xuất thức uống, Cott Inc., một công ty tọa lạc tại Canada, công ty sản xuất nước uống được phân phối bởi các cửa hàng bách hóa ở nước họ. Để minh họa cho những lợi thế rất lớn mà thương hiệu Coca Cola, tôi đã so sánh 2 công ty theo bảng bên dưới:

 

Coca Cola

Cott

Measures

After-tax operating margin

17.07%

4.08%

Pricing power

Sales/ Invested Capital

0.97

1.89

Revenue productivity

Return on capital

16.54%

7.73%

Investment success

Cost of capital

7.31%

8.51%

Cost of funding

Excess return

9.23%

-0.78%

Value added


Biên lãi hoạt động kinh doanh sau thuế của Coca Cola là 17.07% cao hơn 3.5 lần so với Cott; lợi nhuận trên vốn đầu tư của Coca Cola là 16.54% cao hơn 9.23% so với chi phí sử dụng vốn (7.31%), trong khi đó, lợi nhuận trên vốn của Cott là 7.73%, thấp hơn (lags) chi phí sử dụng vốn 0.78% (8,51%).

Vậy, có cách nào để đưa những số liệu này vào giá trị thương hiệu của Coca Cola?

Lựa chọn 1 (biên của Coke=biên của Cott): giả định rằng Coca Cola đánh mất thương hiệu của nó trong 1 đêm và do vậy biên hoạt động của Coke hội tụ với mức 4.08% của Cott. Sự sụt giảm đó trong biên hoạt động đã tạo ra một hiệu ứng lan tỏa (ripple effects), thu nhập trên vốn đầu tư và tốc độ tăng trưởng thấp hơn. Giữ nguyên doanh thu và chi phí vốn cố định, thì giá trị thương hiệu của Coca Cola là 149.5 tỷ USD.

 

Lựa chọn 2 (ROIC của Coke= với Cott): Một lý do mà lựa chọn thứ nhất có thể dự báo quá mức giá trị thương hiệu là vì Cott tỏ ra hiệu quả hơn trong chỉ số doanh thu trên vốn đầu tư (1.89 USD doanh số được tạo ra bởi 1 USD vốn đầu tư) trong khi đó, chỉ số này của Coca Cola chỉ là 0.97 USD. Đưa Coca Cola với cả biên lãi là 4.08% và doanh thu trên vốn đầu tư là 1.89 như của Cott thì khi đó lợi nhuận trên vốn đầu tư (ROIC) là 7.73% và giá trị thương hiệu là 120 tỷ USD.

Mở rộng cách tiếp cận cho những thương hiệu công ty khác, bạn có thể đối mặt với một trở ngại tiềm năng (potential hurdle): tìm kiếm công ty đối thủ tương đồng. Thậm chí trong trường hợp của Coca Cola, bạn có thể sử dụng Cott nhưng chưa chắc Cott đã phản ánh đúng biên lợi nhuận của cty tương đồng. Một giải pháp là xem xét phân phối của ma trận then chốt (ROIC, biên hoạt động, doanh thu trên vốn đầu tư) của ngành. Ví dụ, xem ngành giải khát toàn cầu sau:

Một số hàm ý:

1.    Thương hiệu là một trong những lợi thế cạnh tranh bền vững nhất của doanh nghiệp

2.    Thương hiệu không phải là lợi thế cạnh tranh duy nhất.

3.    Không xác định được lợi thế cạnh tranh có thể dẫn đến sự nguy hiểm

4.    Cảnh báo cho những nhà đầu tư: Nhà đầu tư đầu tư vào một công ty có thương hiệu phải theo dõi biên hoạt động của những công ty này, và ngay lập tức cảnh báo khi chỉ báo này sụt giảm.

Bài gốc ở đây!

Bài liên quan: Đọc giúp bạn|20 thương hiệu đắt giá nhất thế giới 

Nguồn: finandlife|Damodaran

Tags:

Economics

AUTOFEED

DISCLAIMER

Blog của HUỲNH NGỌC THƯƠNG, chuyên viên
phân tích đầu tư chuyên nghiệp, hơn 12 năm kinh nghiệm phân tích đầu tư tại thị trường Việt Nam. Blog phục vụ cho mục đích lưu trữ, tham khảo thông tin và chia sẻ góc nhìn cá nhân (không đại diện cho tổ chức nơi tác giả đang làm việc). Tác giả không đảm bảo tính chắc chắn và không chịu trách nhiệm khi người sử dụng thông tin từ website cho hoạt động đầu tư, mua bán chứng khoán của mình.

 

LINKEDIN

Designed by: Nguyễn Chí Hiếu