Capital Punishment

by finandlife26/04/2014 10:49

Why a Global Tax on Wealth Won't End Inequality

By Tyler Cowen


Every now and then, the field of economics produces an important book; this is one of them. Thomas Piketty’s tome will put capitalist wealth back at the center of public debate, resurrect interest in the subject of wealth distribution, and revolutionize how people view the history of income inequality. On top of that, although the book’s prose (translated from the original French) might not qualify as scintillating, any educated person will be able to understand it -- which sets the book apart from the vast majority of works by high-level economic theorists.

Giới thiệu một tập sách mới của Thomas Piketty về sự giàu có của tư bản và phân phối thu nhập. Đây là một cuộc cách mạng về cách nhìn nhận về bất bình đẳng trong thu nhập.

Piketty is best known for his collaborations during the past decade with his fellow French economist Emmanuel Saez, in which they used historical census data and archival tax records to demonstrate that present levels of income inequality in the United States resemble those of the era before World War II. Their revelations concerning the wealth concentrated among the richest one percent of Americans -- and, perhaps even more striking, among the richest 0.1 percent -- have provided statistical and intellectual ammunition to the left in recent years, especially during the debates sparked by the 2011 Occupy Wall Street protests and the 2012 U.S. presidential election.

Tác phẩm dựa vào dữ liệu nhân khẩu học và tiền thuế lịch sử để chứng minh rằng mức độ bất bình đẳng thu nhập hiện tại ở Mỹ gần giống với thời trước thế chiến thứ 2. Tiết lộ của Tác giả tập trung vào 1% người giàu ở Mỹ.

In this book, Piketty keeps his focus on inequality but attempts something grander than a mere diagnosis of capitalism’s ill effects. The book presents a general theory of capitalism intended to answer a basic but profoundly important question. As Piketty puts it:

"Do the dynamics of private capital accumulation inevitably lead to the concentration of wealth in ever fewer hands, as Karl Marx believed in the nineteenth century? Or do the balancing forces of growth, competition, and technological progress lead in later stages of development to reduced inequality and greater harmony among the classes, as Simon Kuznets thought in the twentieth century?"

Có phải động lực tích lũy tư bản tư nhân chắc chắn dẫn đến sự tập trung của sự giàu có cho một số ít người, như Karl Marx tin tưởng ở thế kỷ 19? Hay có phải những động lực cân bằng của tăng trưởng, cạnh tranh và tiến bộ công nghệ dẫn đến sự phát triển về sau làm giảm sự chênh lệch giàu nghèo và hài hòa hơn giữa các tầng lớp, như Simon Kuznets đã nghĩ trong thế kỷ 20?”

Although he stops short of embracing Marx’s baleful vision, Piketty ultimately lands on the pessimistic end of the spectrum. He believes that in capitalist systems, powerful forces can push at various times toward either equality or inequality and that, therefore, “one should be wary of any economic determinism.” But in the end, he concludes that, contrary to the arguments of Kuznets and other mainstream thinkers, “there is no natural, spontaneous process to prevent destabilizing, inegalitarian forces from prevailing permanently.” To forestall such an outcome, Piketty proposes, among other things, a far-fetched plan for the global taxation of wealth -- a call to radically redistribute the fruits of capitalism to ensure the system’s survival. This is an unsatisfying conclusion to a groundbreaking work of analysis that is frequently brilliant -- but flawed, as well.

Kết thúc tác phẩm, tác giả đã tạo ra một tranh luận đối với những tác giả trước đó, những suy nghĩ được chấp nhận hiện nay, “Không có quá trình tự nhiên, tự phát để ngăn những lực lượng bất ổn từ cách hiểu đã bám rễ”. Để ngăn chặn một kết quả như vậy, Pikketty cho rằng nên đánh thuế toàn cầu lên tài sản để tái phân phối thu nhập và cũng để đảm bảo sự sống sót của hệ thống.


Piketty derives much of his analysis from a close examination of an important but generally overlooked driver of economic inequality: in contemporary market economies, the rate of return on investment frequently outstrips the overall growth rate, an imbalance that Piketty renders as r > g. Thanks to the effect of compounding, if that discrepancy persists over time, the wealth held by capitalists increases far more rapidly than other kinds of earnings, eventually outstripping them by a wide margin. To measure this effect, Piketty focuses on the annual capital-to-income ratio, which expresses the size of a country’s total stock of wealth relative to the income generated by its economy in a single year. Capital wealth is generally much larger than yearly national income -- in the case of today’s developed economies, about five to six times as large.

Tác giả cho rằng, trong nền kinh tế hiện nay, tỷ suất sinh lợi từ hoạt động đầu tư thường lớn hơn so với tốc độ tăng trưởng.

Nhớ lại công thức tính giá hiện tại của một tài sản trên dòng cổ tức ổn định, P=D/(r-g) à chỉ có ý nghĩa khi r>g.

Như vậy, sự làm việc tự nhiên của lãi kép cũng đã giúp những nhà tư bản tăng trưởng nhanh chóng hơn bất kể nguồn thu nhập nào khác, thậm chí, khoảng cách đó ngày càng rộng ra.

Piketty expertly narrates the story of how that gap has played a major role in economic history since the dawn of the modern era. The peace and relative stability enjoyed by western Europe during the second half of the nineteenth century allowed for enormous capital accumulation. Unprecedented concentrations of wealth arose, boosting inequality. But two world wars and the Great Depression destroyed capital and interrupted that trend. Those cataclysms led to a new, more egalitarian era, shaped by postwar rebuilding, a strong demand for labor, rapidly growing populations, and technological innovation. The three decades between 1950 and 1980 were truly unusual; the constellation of economic and demographic variables that produced prosperity during that period will probably not be re-created anytime soon.

Piketty kể lại câu chuyện một cách chuyên nghiệp rằng vì sao mà khoản cách của tỷ suất sinh lợi đầu tư lớn hơn tăng trưởng trên thu nhập giữ một vị trí quan trọng trong lịch sử kinh tế. Sự tăng trưởng nhanh chóng tài sản của giới tư bản đã nới rộng chênh lệch giàu nghèo, và điều đó đã bị phá hủy thông qua 2 cuộc chiến tranh thế giới và thời Đại khủng hoảng. Sau khủng hoảng mọi thứ được xây dựng lại với sự gia tăng của nhu cầu lao động, dân số và cải tiến công nghệ.

After 1980, ongoing capital accumulation, slower technological progress, and rising inequality heralded a regression to something akin to the conditions of the nineteenth century. But few notice the resemblance between now and then, especially in one crucial respect: the role of inherited wealth. So many nineteenth-century novelists were obsessed with estates and inheritance -- think of Jane Austen, George Eliot, or Charles Dickens -- precisely because receiving wealth from one’s parents was such a common way of prospering during that era. In nineteenth-century France, the flow of inheritances represented about 20–25 percent of national income during a typical year. According to Piketty’s calculations, the Western world is headed toward a roughly comparable situation. The relatively thrifty and wealthy baby boomers will soon begin to die off in greater numbers, and inheritance as a source of income disproportionately benefits the families of the very wealthy.

Sự giàu có nhờ thừa kế chiếm đến 20-25% thu nhập quốc gia trong suốt những năm 1980s.

At the core of Piketty’s story are the tragic consequences of capitalism’s success: peace and a declining population bring notable gains, but they also create a society dominated by wealth and by income from capital. In essence, Piketty presents a novel and somewhat disconcerting way of thinking about how hard it is to avoid growing inequality.

Sự thành công của chủ nghĩa tư bản đã dẫn đến sự thống trị của sự giàu co và thu nhập từ vốn.

Yet there are flaws in this tale. Although r > g is an elegant and compelling explanation for the persistence and growth of inequality, Piketty is not completely clear on what he means by the rate of return on capital. As Piketty readily admits, there is no single rate of return that everyone enjoys. Sitting on short-term U.S. Treasury bills does not yield much: a bit over one percent historically in inflation-adjusted terms and, at the moment, negative real returns. Equity investments such as stocks, on the other hand, have a historical rate of return of about seven percent. In other words, it is risk taking -- a concept mostly missing from this book -- that pays off.

Nhưng có những sai sót trong câu chuyện này. Mặc dù, r>g là một giải thích rõ ràng và thuyết phục cho sự gia tăng bất bình đẳng, Piketty không thật rõ ràng trong ý nghĩa của tỷ suất sinh lợi vốn đầu tư. Không có một tỷ suất duy nhất thỏa mãn cho mọi người, những người đầu tư vào trái phiếu có thể phải nhận lợi suất thật âm, những người đầu tư vào cổ phiếu mặc dù nhận được tỷ suất sinh lợi lớn hơn nhưng họ phải chấp nhận rủi ro.  

That fact complicates Piketty’s argument. Piketty estimates that the general annual rate of return on capital has averaged between four and five percent (pretax) and is unlikely to deviate too far from this range. But in too many parts of his argument, he seems to assume that investors can reap such returns automatically, with the mere passage of time, rather than as the result of strategic risk taking. A more accurate picture of the rate of return would incorporate risk and take into account the fact that although the stock of capital typically grows each year, sudden reversals and retrenchments are inevitable. Piketty repeatedly serves up the appropriate qualifications and caveats about his model, but his analysis and policy recommendations nevertheless reflect a notion of capital as a growing, homogeneous blob which, at least under peaceful conditions, ends up overshadowing other economic variables.

Furthermore, even if one overlooks Piketty’s hazy definition of the rate of return, it is difficult to share his confidence that the rate, however one defines it, is likely to be higher than the growth rate of the economy. Normally, economists think of the rate of return on capital as diminishing as investors accumulate more capital, since the most profitable investment opportunities are taken first. But in Piketty’s model, lucrative overseas investments and the growing financial sophistication of the superwealthy keep capital returns permanently high. The more prosaic reality is that most capital stays in its home country and also has a hard time beating randomly selected stocks. For those reasons, the future of capital income looks far less glamorous than Piketty argues.

Một vấn đề nữa, tác giả cuốn sách định nghĩa tỷ suất sinh lời trên vốn không thay đổi khi những nhà đầu tư tích lũy thêm vốn. Nhưng thực tế cho thấy, cơ hội tìm kiếm tỷ suất sinh lời cao ngày càng khó hơn khi nguồn vốn tăng lên.


Piketty, in a way, has updated the work of the British economist David Ricardo, who, in the early nineteenth century, identified the power of what he termed “rent,” which he defined as the income earned from taking advantage of the difference in value between more and less productive lands. In Ricardo’s model, rent -- the one kind of income that did not suffer from diminishing returns -- swallowed up almost everything else, which is why Ricardo feared that landlords would come to dominate the economy.

Of course, since Ricardo’s time, the relative economic importance of land has plummeted, and his fear now seems misplaced. During the twentieth century, other economists, such as Friedrich Hayek and the other thinkers who belonged to the so-called Austrian School, understood that it is almost impossible to predict which factors of production will provide the most robust returns, since future economic outcomes will depend on the dynamic and essentially unforeseeable opportunities created by future entrepreneurs. In this sense, Piketty is like a modern-day Ricardo, betting too much on the significance of one asset in the long run: namely, the kind of sophisticated equity capital that the wealthy happen to hold today.

Piketty’s concern about inherited wealth also seems misplaced. Far from creating a stagnant class of rentiers, growing capital wealth has allowed for the fairly dynamic circulation of financial elites. Today, the Rockefeller, Carnegie, and Ford family fortunes are quite dispersed, and the benefactors of those estates hardly run the United States, or even rival Bill Gates or Warren Buffett in the financial rankings. Gates’ heirs will probably inherit billions, but in all likelihood, their fortunes will also be surpassed by those of future innovators and tycoons, most of whom will not come from millionaire families.

To be sure, outside the realm of the ultra-elites, the United States suffers from unfairness in terms of who gets ahead in life, and a lack of upward mobility profoundly affects the prospects of lower-income Americans. Still, the success of certain immigrant groups suggests that cultural factors play a more significant role in mobility than does the capital-to-income ratio, since the children and grandchildren of immigrants from those groups tend to advance socioeconomically even if their forebears arrived without much in the way of accumulated fortunes.

It is also worth noting that many wealth accumulators never fully diversify their holdings, or even come close to doing so. Gates, for example, still owns a lot of Microsoft stock -- perhaps out of a desire for control, or because of a sentimental attachment to the company he co-founded, or maybe just due to excessive optimism. Whatever the reasons, over time such concentrations of financial interest hasten the circulation of elites by making it possible for the wealthy to suffer large losses very rapidly.

And in the end, even the most successful companies will someday fall, and the fortunes associated with them will dissipate. In the very long run, the most significant gains will be reaped by institutions that are forward-looking and rational enough to fully diversify. As Piketty discusses, that category includes the major private U.S. universities, and indeed the list of the top schools has not changed much over many decades. Harvard and other elite universities might, in fact, emerge as the true rentiers of the contemporary era: as of 2008, the top 800 U.S. colleges and universities controlled almost $400 billion in assets.

Một việc khác cũng khá quan trọng, đó là sự thừa kế không phải là vĩnh viễn, nó luôn có sự phân tán và thay đổi.


Piketty fears the stasis and sluggishness of the rentier, but what might appear to be static blocks of wealth have done a great deal to boost dynamic productivity. Piketty’s own book was published by the Belknap Press imprint of Harvard University Press, which received its initial funding in the form of a 1949 bequest from Waldron Phoenix Belknap, Jr., an architect and art historian who inherited a good deal of money from his father, a vice president of Bankers Trust. (The imprint’s funds were later supplemented by a grant from Belknap’s mother.) And consider Piketty’s native France, where the scores of artists who relied on bequests or family support to further their careers included painters such as Corot, Delacroix, Courbet, Manet, Degas, Cézanne, Monet, and Toulouse-Lautrec and writers such as Baudelaire, Flaubert, Verlaine, and Proust, among others.

Notice, too, how many of those names hail from the nineteenth century. Piketty is sympathetically attached to a relatively low capital-to-income ratio. But the nineteenth century, with its high capital-to-income ratios, was in fact one of the most dynamic periods of European history. Stocks of wealth stimulated invention by liberating creators from the immediate demands of the marketplace and allowing them to explore their fancies, enriching generations to come.

Piketty’s focus on the capital-to-income ratio is novel and worthwhile. But his book does not convincingly establish that the ratio is important or revealing enough to serve as the key to understanding significant social change. If wealth keeps on rising relative to income, but wages also go up, most people will be happy. Of course, in the past few decades, median wages have been stagnant in many developed countries, including the United States. But the real issue, then, is wages -- not wealth. A high capital-to-income ratio might be one factor depressing wages, but it hardly seems central -- and Piketty does not claim, much less show, that it is.

Sự tập trung của Piketty vào tỷ số vốn trên thu nhập. Nhưng tỷ số đó chưa đủ để thấu hiểu sự thay đổi cụ thể của xã hội. Tất nhiên, trong một vài thập kỷ qua, tiền lương trung bình đã bị trì trệ ở những quốc gia phát triển, gồm cả Mỹ. Nhưng thực sự, sau đó, tiền lương-không phải là sự giàu có. Tỷ số vốn trên thu nhập cao có thể đến từ tiền lương thấp, nhưng nó chưa phải là nhân tố trung tâm.

Two other factors have proved much more important: technological changes during the past few decades that have created a globalized labor market that rewards those with technical knowledge and computer skills and competition for low-skilled jobs from labor forces overseas, especially China. Piketty discusses both of those issues, but he puts them to the side rather than front and center.

Of course, income and wealth inequalities have risen in most of the world’s developed nations, and those processes will likely continue and perhaps intensify in the immediate future. But for the world as a whole, economic inequalities have been falling for several decades, mostly thanks to the economic rise of China and India. Growth in those countries has depended in part on policies of economic liberalization, which themselves were inspired and enabled, to a certain extent, by capital accumulation in the West. The relative global peace of the postwar period might have bred inequality in rich countries, but it has also led to reform and economic opportunity in poorer countries. It is no accident that communism was the product of war and civil conflict.

Tất nhiên, sự bất bình đẳng thu nhập và giàu có đã tăng lên ở hầu hết những quốc gia phát triển và quá trình ngày có thể còn tiếp diễn. Nhưng đứng trên khía cạnh toàn cầu, sự bất bình đẳng kinh tế đã giảm xuống trong nhiều thập kỷ qua, nhờ sự tăng lên của Trung Quốc và Ấn Độ. Sự tăng trưởng ở những quốc gia này phụ thuộc một phần vào những chính sách tự do kinh tế, cái được kích hoạt bởi sự tích lũy tư bản từ Phương Tây.


The final chapters of the book, which contain Piketty’s policy recommendations, are more ideological than analytic. In these sections, Piketty’s preconceptions lead to some untenable conclusions. His main proposal is a comprehensive international agreement to establish a progressive tax on individual wealth, defined to include every kind of asset. Piketty concedes that this is a “utopian idea” but also insists that it is the best possible solution to the problem. He hedges a bit on the precise numbers but suggests that wealth below 200,000 euros be taxed at a rate of 0.1 percent, wealth between 200,000 and one million euros at 0.5 percent, wealth between one million and five million euros at 1.0 percent, and wealth above five million euros at 2.0 percent.

Although he recognizes the obvious political infeasibility of such a plan, Piketty has nothing to say about the practical difficulties, distorting effects, and potential for abuse that would inevitably accompany such intense government control of the economy. He points to estimates he has previously published in academic papers as evidence that such a confiscatory regime would not harm the labor supply in the short term. But he neglects the fact that in the long run, taxes of that level would surely lower investments in human capital and the creation of new businesses. Nor does he recognize one crucial implication of his own argument about the power of nondiminishing capital returns: if capital is so mobile and dynamic that it can avoid diminishing returns, as Piketty claims, then it will probably also avoid being taxed, which means that the search for tax revenue will have to shift elsewhere, and governments will find that soaking the rich does not really work.

Piketty also ignores other problems that would surely stem from so much wealth redistribution and political control of the economy, and the book suffers from Piketty’s disconnection from practical politics -- a condition that might not hinder his standing in the left-wing intellectual circles of Paris but that seems naive when confronted with broader global economic and political realities. In perhaps the most revealing line of the book, the 42-year-old Piketty writes that since the age of 25, he has not left Paris, “except for a few brief trips.” Maybe it is that lack of exposure to conditions and politics elsewhere that allows Piketty to write the following words with a straight face: “Before we can learn to efficiently organize public financing equivalent to two-thirds to three-quarters of national income” -- which would be the practical effect of his tax plan -- “it would be good to improve the organization and operation of the existing public sector.” It would indeed. But Piketty makes such a massive reform project sound like a mere engineering problem, comparable to setting up a public register of vaccinated children or expanding the dog catcher’s office.

Worse, Piketty fails to grapple with the actual history of the kind of wealth tax he supports, a subject that has been studied in great detail by the economist Barry Eichengreen, among others. Historically, such taxes have been implemented slowly, with a high level of political opposition, and with only modestly successful results in terms of generating revenue, since potentially taxable resources are often stashed in offshore havens or disguised in shell companies and trusts. And when governments have imposed significant wealth taxes quickly -- as opposed to, say, the slow evolution of local, consent-based property taxes -- those policies have been accompanied by crumbling economies and political instability.

Recent wealth-tax regimes in the European Union offer no exceptions to this general rule. In 2011, Italy introduced a wealth tax on real estate, but Rome retracted the plan after the incumbent government was dealt a major blow in elections last year, partly owing to public dissatisfaction with the tax scheme. Last year, the government of the Republic of Cyprus imposed the equivalent of a tax on bank deposits, only to see the tax contribute to, rather than reverse, the island’s economic struggles.

The simple fact is that large wealth taxes do not mesh well with the norms and practices required by a successful and prosperous capitalist democracy. It is hard to find well-functioning societies based on anything other than strong legal, political, and institutional respect and support for their most successful citizens. Therein lies the most fundamental problem with Piketty’s policy proposals: the best parts of his book argue that, left unchecked, capital and capitalists inevitably accrue too much power -- and yet Piketty seems to believe that governments and politicians are somehow exempt from the same dynamic.

A more sensible and practicable policy agenda for reducing inequality would include calls for establishing more sovereign wealth funds, which Piketty discusses but does not embrace; for limiting the tax deductions that noncharitable nonprofits can claim; for deregulating urban development and loosening zoning laws, which would encourage more housing construction and make it easier and cheaper to live in cities such as San Francisco and, yes, Paris; for offering more opportunity grants for young people; and for improving education. Creating more value in an economy would do more than wealth redistribution to combat the harmful effects of inequality.

Notes: I noted this article in my blog for study only. Thanks for


Nguồn: finandlife|



Cát và Đá

by Life26/04/2014 08:38


Có hai người bạn đang dạo bước trên sa mạc. Trong chuyến đi dài, hai người nói chuyện với nhau và đã có một cuộc tranh cãi gay gắt.

Không giữ được bình tĩnh, một người đã tát người bạn của mình. Người kia rất đau nhưng không nói gì. Anh chỉ lặng lẽ viết lên cát rằng: "Hôm nay, bạn tốt nhất của tôi đã tát vào mặt tôi."

Họ tiếp tục bước đi cho tới khi nhìn thấy một ốc đảo, nơi họ quyết định sẽ dừng chân và tắm mát.

Người bạn vừa bị tát do sơ ý bị trượt chân xuống một bãi lầy và ngày càng lún sâu xuống. Nhưng người bạn kia đã kịp thời cứu anh.

Ngay sau khi hồi phục, người bạn suýt chết đuối khắc lên tảng đá dòng chữ: "Hôm nay, bạn tốt nhất của tôi đã cứu sống tôi."

Người bạn kia hết sức ngạc nhiên bèn hỏi: "Tại sao khi tớ làm cậu đau, cậu lại viết lên cát còn bây giờ lại là một tảng đá?"

Và câu trả lời anh nhận được là: "Khi ai đó làm chúng ta đau đớn, chúng ta nên viết điều đó lên cát nơi những cơn gió của sự thứ tha sẽ xóa tan những nỗi trách hờn.

Nhưng "Khi chúng ta nhận được điều tốt đẹp từ người khác, chúng ta phải ghi khắc chuyện ấy lên đá nơi không cơn gió nào có thể cuốn bay đi." 

Hãy học cách viết những nỗi đau lên cát và khắc tạc những niềm vui và hạnh phúc bạn tận hưởng trong cuộc đời lên tảng đá để mãi không phai.(st



Foundations vs 'Castles in the Air'

by finandlife24/04/2014 09:08

"I learned this, at least, by my experiment (trải nghiệm): that if one advances confidently in the direction of his dreams, and endeavors (nỗ lực) to live the life which he has imagined, he will meet with a success unexpected in common hours. He will put some things behind, will pass an invisible boundary (ranh giới vô hình); new, universal, and more liberal laws will begin to establish themselves around and within him; or the old laws be expanded, and interpreted in his favor in a more liberal sense (cảm giác tự do), and he will live with the license of a higher order of beings. In proportion as he simplifies his life, the laws of the universe will appear less complex, and solitude will not be solitude (cô đơn không còn là cô đơn), nor poverty poverty, nor weakness weakness. If you have built castles in the air, your work need not be lost; that is where they should be. Now put the foundations under them."

Henry David Thoreau, Walden

Humans are curious beings. We spend the majority of our time building foundations but leave little or no time for living in the actual structure, and this assumes the structure is ever completed.

Foundation-building in life is essentially an act of sacrificing (hành động hi sinh) now for the prospect of having something better later. But the key word is "prospect," which implies only a potential for reward in a future that is not certain to come.

Consider some examples of foundation-building:

  • Studying the subject in college you believe leads to a high-paying job.
  • Climbing the corporate ladder / building a resume.
  • Saving for retirement.

Building a foundation is the "responsible" thing to do. But building your castle in the air, to borrow Thoreau's metaphor (ẩn dụ), is the philosophy of living now as yourself, as opposed to waiting indefinitely to be yourself later, after having built a foundation.

Building a foundation là chịu trách nhiệm phải làm cái gì đó

Building your castle in the air là triết lý sống cho hiện tại của chính bạn, trái với việc chờ đợi một điều gì đó không rõ ràng đến với bạn sau đó, sau khi bạn đã “built a foundation”

"We have to recognize accident, i.e., the fact that there is no formula, no 'principle', which covers all things; that there is no totality or system of things. And this recognition at once supports a life of 'responsibility and adventure' and leads to scientific discovery." ~ John Anderson

Almost every reflection on life I have ever seen or heard from those who have lived a self-actualized existence says that the risk of (or indifference to) financial failure is essential for achieving the ability to spend more of your time doing what comes naturally, to be your Self, to be self-actualized.

As Thoreau suggests in his famous 'castles in the air' quote, success comes when one "advances confidently in the direction of his dreams." Therefore an act of failure in conventional terms is seen only as a temporary setback for those who live authentically in the present.

But to be self-actualized and enjoy life now does not require financial irresponsibility. All that is required, like all things in life, is a healthy balance of responsibility and adventure.

Now consider other examples of building castles in the air:

  • Do what you love now and find a way to make the finances work later.
  • Live where you want to live first and find the job second.
  • Listen to your inner voice and doubt any other voice you hear.

"What do you think I am doing now?"

For a specific example, what if you could find meaningful work now that you enjoy but it only paid a minimal amount to cover only the bare necessities? You may not be able to "save for retirement" anymore but you would already be in retirement, if you think of it with a healthy perspective: You would build the castle and live in it now, as opposed to spending most of your life building a foundation first. Why save money for "the good life" when you already live the good life?

The idea of 'castles in the air' brings to mind a similar lesson, the fisherman's parable, which is where I will leave you today:

One day a fisherman was sitting by his boat while playing with his child on a beautiful beach; his fishing pole resting against the boat.

A wealthy businessman came walking down the beach, trying to relieve some of the stress of his workday. Curious and horrified at the sight of the fisherman wasting the day, the businessman asked, "Why aren't you out fishing?"

The fisherman looked up at the businessman, smiled and replied, "Because I already caught enough fish for one day." The businessman followed, "Why don't you catch some more?"

"What would I do with them?" replied the fisherman. "You could earn extra money," said the businessman, "then with the extra money, you could buy a bigger boat, go into deeper waters, and catch more fish. Then you would make enough money to buy nylon nets (lưới nylon). With the nets, you could catch even more fish and make more money. With that money you could own two boats, maybe three boats. Eventually you could have a whole fleet of boats and be rich like me."

"Then what would I do?" asked the fisherman. "Then," said the businessman, "you could really enjoy life."

The fisherman looked at the businessman quizzically (diễu cợt) and asked, "What do you think I am doing now?" 

Nguồn: Kent Thune Blogger



Vào đời

by Life21/04/2014 22:10

Bài chia sẻ rất hay của Chủ tịch của Trường Việt Mỹ. Đặc biệt hữu ích cho các bạn trẻ bắt đầu vào đời.


Tôi rất hân hạnh được có mặt trong buổi lễ tốt nghiệp ngày hôm nay của các bạn, những cựu sinh viên yêu quý của trường Cao đẳng Nghề Việt Mỹ. Trong ngày vui này, tôi muốn chia sẻ với các bạn 3 điều với tư cách là một người bạn. Chỉ có 3 điều thôi, không có gì là lớn lao.

Điều thứ nhất là về sự thất bại.

Tôi tự cho mình là một người dám chấp nhận thất bại. Thất bại đầu đời của tôi là trong năm đầu Đại học. Tôi vào học Đại học Quốc Gia HN năm 1995 và đặt mục tiêu phải lấy được hỏng bổng để đi Úc học ngay trong năm đầu tiên. Để làm được việc đó, tôi phải đứng đầu trường về thành tích học tập. Kết quả học tập của tôi năm đó đứng đầu trường. Nhưng đáng tiếc là chương trình học bổng của Úc mà tôi nhắm tới năm đó kết thúc. Giấc mơ không thành, tôi đã khóc nhiều ngày, nhưng tôi không bỏ cuộc.

Khi tốt nghiệp Đại học, tôi cũng tốt nghiệp đứng đầu khoá. Tôi được trường Đại học Quốc Gia Hà Nội giữ lại làm giảng viên. Thế nhưng mức lương khi đó chỉ có 400 nghìn Đồng mỗi tháng, đủ cho tôi uống café và ăn sáng vài ngày. Tôi nộp hồ sơ xin việc ở nhiều nơi, và trong suốt 6 tháng trời, tôi chỉ nhận được hết cái lắc đầu này tới cái lắc đầu khác. Lại một thất bại nữa.

Sự thất bại trong việc tìm việc làm tốt và lương cao khiến tôi nhận ra tôi cần phải làm tốt hơn nữa. Tôi đã dành một năm tự học và xin học bổng. Thời kỳ này áp lực lớn tới mức tóc trên đầu tôi rụng từng mảng. Tôi cao 1m74, và khi đó tôi chỉ nặng hơn 50 kg đôi chút. Nhưng nỗ lực của tôi cuối cùng không uổng. Tôi được nhận học bổng của viện Harvard Yenching tại trường Đại học Harvard và được nhận vào học tại Đại học Tổng hợp Texas tại Austin. Năm 24 tuổi, tôi bắt đầu qua Mỹ học tiến sĩ Kinh tế.

Gần 6 năm học tiến sĩ là một thời kỳ gian khổ, đặc biệt là trong giai đoạn làm luận án. Các thất bại liên tiếp trong nghiên cứu và áp lực phải thành công để tốt nghiệp là đặc biệt nghiêm trọng. Nếu thời gian kéo dài quá lâu, học bổng của tôi sẽ hết, và tôi sẽ phải bỏ

cuộc và về Việt Nam với hai bàn tay trắng. Vì thế nhiều lúc quẫn trí tôi đã tính đến việc tự sát.

Thế nhưng cuối cùng tôi vẫn vượt qua được. Khi tôi tốt nghiệp đầu năm 2007, tôi là một trong 3 nghiên cứu sinh được đánh giá cao nhất trong số khoảng gần 20 tiến sĩ Kinh tế tốt nghiệp năm đó của trường. Ngay từ trước khi ra trường, tôi đã có việc làm tại Mỹ với mức lương khởi đầu 6 con số, tức là hơn 100 nghìn USD/năm.

Năm 2010, tôi về Việt nam và bắt đầu làm việc cho một Quỹ đầu tư lớn nhất nhì Việt Nam trên cương vị cố vấn kinh tế cao cấp. Nhiều người ngăn cản quyết định này. Nhiều người cho tôi là ngu ngốc. Và quả thật, tôi bị sa thải chỉ sau 3 tuần làm việc ở tập đoàn này. Lý do, các lãnh đạo của họ sợ những gì tôi nói và viết có thể ảnh hưởng đến tương lai chính trị của tập đoàn. Lại một thất bại nữa. Lần này nặng hơn vì tôi đã 33 tuổi.

Nhưng chính nhờ thất bại này sự nghiệp của tôi rẽ sang một lối đi mới. Tôi tham gia cùng các bạn bè thân hữu của mình xây dựng công ty tài chính TNK Capital, giờ là một công ty tư vấn tài chính uy tín ở Việt Nam. Từ công ty này, chúng tôi lập ra Ismart Education, một công ty tiên phong ở Việt Nam trong lĩnh vực giải pháp giáo dục số, và đầu tư vào Học viện Giáo dục Hoa Kỳ, là công ty sở hữu trường Cao đẳng Nghề Việt Mỹ. Đó cũng là lý do mà tôi đứng trước các bạn ngày hôm nay với tư cách Chủ tịch của Trường.

Những thất bại mà tôi gặp phải trong 20 năm qua có thể chưa phải là những thất bại lớn. Tôi có thể sẽ còn gặp thêm nhiều thất bại nữa trong những năm tới. Nhưng mỗi khi thất bại, tôi lại thấy mình trưởng thành hơn và quyết tâm hơn.

Ngày hôm nay các bạn ra trường, cũng giống như tôi ra trường hồi 15 năm trước. Dù học giỏi tới đâu, hành trang lập nghiệp của các bạn cũng giống như tôi ngày đó, vẫn còn nghèo nàn lắm. Các bạn chắc chắn sẽ phải đối mặt với nhiều khó khăn, thử thách, và sẽ có nhiều thất bại. Có những thất bại sẽ làm các bạn bật khóc. Có những thất bại sẽ làm các bạn không thể khóc thành lời. Có những thất bại sẽ làm các bạn mất niềm tin và gục ngã. Có những thất bại thậm chí làm các bạn đau đến mức ước như mình chưa bao giờ được sinh ra. Trong những giờ phút ấy, hãy nhớ rằng ai cũng sẽ phải trải qua những thử thách tương tự. Cái gì không giết chết được chúng ta thì sẽ làm chúng ta lớn mạnh hơn. Tôi mong điều ấy ở các bạn. Và đó là chia sẻ đầu tiên.

Điều thứ hai là về sự hữu hạn của cuộc đời.

Khi tôi còn ở những năm đầu của tuổi 20, tôi không bao giờ nghĩ đến một ngày nào đó mình trở nên già đi. Với tôi khi đó chỉ có tuổi trẻ. Thế nhưng đứng trước các bạn ngày hôm nay ở đây, tôi nhận ra 15 năm đã trôi qua như một giấc mơ. Chỉ 3 năm nữa tôi sẽ bước vào tuổi 40. Thêm một giấc mơ 15 năm nữa giống như giấc mơ vừa qua và tôi sẽ ngoài 50 tuổi. Điều đó cũng sẽ đến với các bạn. Rất nhanh thôi, 10 năm, 20 năm, rồi 30 năm sẽ trôi qua và một sáng thức dậy các bạn sẽ thấy tóc trên đầu mình có nhiều sợi bạc.

Điều đó không có gì là đáng buồn. Ngược lại, nó là một động lực lớn nếu các bạn biết tận dụng. Hiểu rằng mình sẽ già đi và biến mất khỏi trái đất này như là một lẽ tự nhiên cũng có nghĩa rằng bạn sẽ biết yêu quý từng ngày còn lại và biết dùng nó một cách có ích nhất.

Thế nào là có ích? Tôi không có ý nói đến việc bạn phải có những đóng góp lớn lao cho xã hội hoặc những hi sinh phi thường. Cái có ích mà tôi nói đến ở đây là các bạn chỉ sống có một lần cuộc sống này, vì thế hãy làm những gì các bạn thực sự yêu thích nhất. Tôi muốn mượn lời Steve Jobs tại lễ tốt nghiệp năm 2005 của Đại học Standford. Jobs nói rằng "thời gian của các bạn là hữu hạn, vì thế đừng phí phạm thời gian để sống cuộc đời của người khác. Đừng bị xập bẫy các giáo điều để phải sống cuộc sống của mình theo cách nghĩ của người khác. Đừng để tiếng nói quan điểm của người khác nhấn chìm tiếng nói sâu thẳm trong lòng bạn. Và điều quan trọng nhất là hãy có can đảm để đi theo tiếng gọi của trái tim và trực giác của bạn. Chúng là thứ biết rõ rất bạn thực sự muốn trở thành một người như thế nào. Những thứ khác đều là thứ yếu."

Khi các bạn thực sự làm việc gì mà các bạn yêu thích nhất, các bạn sẽ dễ vượt qua những thử thách hơn. Công việc chiếm một phần lớn cuộc đời của các bạn, vì thế, các bạn sẽ chỉ cảm thấy thực sự mãn nguyện khi được làm việc mà các bạn cho là thích hợp nhất với mình.

Tôi là một người ham viết lách từ nhỏ. Ngay khi còn là học sinh phổ thông cơ sở, tôi đã viết tiểu thuyết và làm thơ. Tiểu thuyết của tôi chưa bao giờ được đăng, và thơ của tôi cũng vậy. Có lẽ tiểu thuyết của tôi quá dở và thơ của tôi cũng cộc cằn. Tôi không làm thơ và viết văn nữa, nhưng niềm yêu thích viết lách thì ngày một lớn. Cuối cùng, tôi trở thành một nhà phân tích và bình luận về kinh tế và quan hệ quốc tế. Trong mười năm nay, tôi đã có gần 1 nghìn bài viết đăng tải trên nhiều báo và tạp chí trong và ngoài nước. Đó là sở thích của tôi. Nó làm tôi cảm thấy cuộc sống của mình có ý nghĩa. Nếu như nhiều tuần qua đi không thể viết những gì mình muốn viết, tôi cảm thấy thiếu hụt như thiếu hụt ô xi để thở, và tôi phải quay lại viết bằng được.

Trong số các bạn ngồi đây ngày hôm nay, hẳn sẽ có một số bạn đã thực sự biết mình muốn làm gì. Các bạn thật may mắn. Với phần lớn các bạn khác, có lẽ các bạn vẫn còn chưa biết mình muốn làm gì. Các bạn hãy tiếp tục tìm kiếm. Cũng giống như tất cả các vấn đề thuộc về trái tim, các bạn sẽ biết mình tìm ra nó khi gặp nó. Các bạn không được dừng lại trước khi tìm ra. Và khi đã tìm ra công việc mà mình thực sự ưa thích, các bạn hãy theo đuổi nó bằng toàn bộ năng lượng của mình. Vì thời gian của các bạn trên đời này chỉ là hữu hạn, các bạn sẽ già đi, và chắc chắn các bạn không muốn trở thành một người già chìm đắm trong hối tiếc về quá khứ bị bỏ lỡ.

Điều thứ ba là sự thành đạt và hạnh phúc.

Không phải ai sinh ra cũng là thiên tài, cũng có cơ hội để trở thành một thiên tài. Không phải ai sinh ra cũng trong một gia đình giàu có, hoặc có cơ hội để trở thành giàu có. Tôi không phải là một thiên tài, và cho đến giờ tôi cũng chưa bao giờ là một người thực sự giàu có. Có thể trong số các bạn tốt nghiệp ngày hôm nay sẽ có một số ít bạn trở thành những người đặc biệt nổi tiếng hoặc giàu có về sau, nhưng chắc chắn phần lớn trong số các bạn sẽ là những người có cuộc sống bình thường.

May mắn là không cần phải là một thiên tài hoặc một người đặc biệt giàu có thì mới có hạnh phúc. Thậm chí trong nhiều trường hợp điều này còn ngược lại, có nghĩa là người đặc biệt nổi tiếng hoặc giàu có nhiều khi không có hạnh phúc.

Lý do là, hạnh phúc là cảm nhận chủ quan của bạn đối với những gì bạn làm, những gì bạn có, và những gì xung quanh bạn. Hạnh phúc không phải là một khái niệm vật lý với những công thức khô cứng. Nó là thứ thuộc về con người, và vì thế, nó có có vẻ đẹp và sự bí ẩn mà chỉ có chính bạn mới giải mã cho mình được. Nếu biết cách giải mã, hạnh phúc đến từ những điều nhỏ nhặt nhất. Trong bước đường sắp tới, các bạn sẽ phải luôn bám đuổi trong một cuộc cạnh tranh gay gắt về danh lợi. Nhưng hãy đừng để nó cuốn các bạn đi vĩnh viễn. Hãy biết dừng lại, dành thời gian để cảm nhận và tự vui với những gì mình có.

Và lý do để tôi chia sẻ điều này là vì hôm nay là ngày của các bạn. Các bạn đã đặt thêm được một dấu mốc hết sức quan trọng trong cuộc đời mình. Những khó khăn cực nhọc trên ghế nhà trường đã qua, những khó khăn cực nhọc trên con đường mưu sinh và khẳng định bản thân đang đến. Nhưng ngay lúc này, chính lúc này đây, các bạn có quyền dừng lại trong một ngày, có quyền tự hào vì những gì mình đã làm được, có quyền vui chơi với các bạn đồng khoá và thầy cô thêm một ngày nữa như những sinh viên còn đang học, có quyền tổ chức tiệc tùng để ăn mừng thành tựu của mình.

Không có ai sống thay cuộc sống của các bạn, và các bạn cũng không cần phải sống thay cuộc sống của ai. Vì thế, không ai có quyền đánh giá hay nghi ngờ những nỗ lực mà các bạn phải trải qua để đến được với thời khắc này. Chúng tôi, những người đàn anh, đàn chị, những người đã đi trước, vui mừng và nghiêng mình trước các bạn. Chúc tất cả các bạn thành công và hạnh phúc.(



SBA|Cập nhật KQKD quý 1 năm 2014

by finandlife20/04/2014 21:52

SBA mở đầu năm 2014 với kết quả Quý 1 đáng kinh ngạc: doanh thu tăng 2.7 lần và lợi nhuận sau thuế tăng gần 4 lần so với cùng kỳ, mặc dù chi phí lãi vay cũng tăng hơn 3 lần.
Có mấy điểm cần lưu ý :

Biểu đồ sản lượng điện 5 quý gần nhất

Sản lượng điện quý 1/2014 tăng 150% so với quý 1/2013 do điều kiện thủy văn cải thiện, nước về các hồ chứa tăng cao giúp doanh số tăng mạnh. Trong đó, sản lượng điện của NMTĐ Khe Diên tăng 166% và sản lượng NMTĐ Krong H’Năng tăng 144%.

Chi phí lãi vay trung bình mỗi quý khoảng 16 tỷ đồng, con số này trong quý 1/2014 là 17.28 tỷ đồng, chênh lệch không nhiều so với con số trung bình. Đây là điều bình thường! Trong quý 1/2013, SBA đã thực hiện hạch toán kế toán chi phí lãi vay theo doanh thu bán hàng, nên chi phí lãi vay trong quý này giảm mạnh. Nhưng đây là điều không được chấp nhận, do vậy trong báo cáo kiểm toán giữa niên độ 2013, Cty buộc phải nâng mức chi phí lãi vay lên 28.1 tỷ đồng, thực chất là ghi bù lại cách hạch toán không được phép của quý 1/2013 (nhớ rằng, quý 1, báo cáo tài chính không bắt buộc phải kiểm toán).

Kế hoạch kinh doanh 2014 cho thấy, doanh thu tăng 6%, lợi nhuận sau thuế tăng 17% so với 2013. Nhưng với điều kiện thủy văn thuận lợi như quý 1/2014, nhiều khả năng SBA sẽ hoàn thành vượt kế hoạch đặt ra.

Đây là giải trình của Ban Lãnh Đạo SBA.

Lưu ý: Có phải là do thủy văn cải thiện hay chỉ đơn thuần là được tích nước tốt trong quý 4?

Bài liên quan: 

Phân tích và khuyến nghị SBA (Cổ phiếu Cty Sông Ba) 

Nguồn: finandlife

Tags: ,




I am a Senior Associate – Investment at TOP 2 Securities Co., in Vietnam. I started working in investment field as a junior analyst at a Fund in 2007. I have more than 12 years of experience in investment analysis. I have a deep understanding of Vietnam macroeconomics, equity research, and seeking investment opportunities. This is my private Blog. I use this Blog to store information and share my personal views. I don't guarantee the certainty. And I am not responsible when the user uses the information from the Blog for trading/investing activities.

Designed by: Nguyễn Chí Hiếu